Thuyết minh về sự nghiệp văn học Nguyễn Du | Văn thuyết minh lớp 9

Văn mẫu thuyết minh về sự nghiệp văn học Nguyễn Du hay nhất do Đọc tài liệu tổng hợp được để giúp các em có cho mình một bài văn thuyết minh tốt nhất

Nguyễn Du là một trong những đại thi hào của dân tộc ta và còn là người giúp nền văn học nước nhà được cộng đồng quốc tế biết tới và đón nhận. Thông qua Truyện Kiều dường như giá trị tinh thần, vẻ đẹp trong văn học Việt được đông đảo những người yêu văn thơ biết tới, cùng Đọc tài liệu tham khảo chi tiết văn mẫu thuyết minh về sự nghiệp văn học Nguyễn Du em nhé:

Một số lưu ý chính về sự nghiệp văn học của Nguyễn Du

Về nội dung: Các sáng tác của Nguyễn Du,

– nét nổi bật chính là sự đề cao xúc cảm, tức đề cao “tình”.

– là sự cảm thông sâu sắc của tác giả đối với cuộc sống và con người, đặc biệt là những con người nhỏ bé, bất hạnh (xem: Văn tế thập loại chúng sinh, Sở kiến hành, Thái Bình mại ca giả v.v.).

– Cái nhìn nhân đạo này khiến ông được đánh giá là “tác giả tiêu biểu của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19”.

– Riêng với Truyện Kiều, kiệt tác này còn “thấm đẫm tinh thần ngợi ca, trân trọng vẻ đẹp kì diệu của tình yêu lứa đôi.”

Về nghệ thuật: 

– Ông là nhà thơ có học vấn uyên bác, nắm vững nhiều thể thơ của Trung Quốc, như: ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật , thất ngôn luật, ca, hành…nên ở thể thơ nào, ông cũng có bài xuất sắc.

– Đặc biệt hơn cả là tài làm thơ bằng chữ Nôm của ông, mà bằng chứng là ở Truyện Kiều, đã cho thấy thể thơ lục bát “có khả năng chuyển tải nội dung tự sự và trữ tình to lớn của thể loại truyện thơ.

– Thơ của ông luôn luôn vang lên âm thanh, bừng lên màu sắc của sự sống, hằn lên những đường nét sắc cạnh của một bức tranh hiện thực đa dạng, vừa dạt dào yêu thương, vừa bừng bừng căm giận.

Tham khảo thêm: Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du

Văn mẫu thuyết minh về sự nghiệp văn học Nguyễn Du

Bài số 1

Sự nghiệp văn học vĩ đại của Nguyễn Du

250 năm trước từ đất Thăng Long ngàn năm văn hiến, một trong những người Việt Nam vĩ đại nhất đã ra đời: Nguyễn Du. Nếu những ghi chép trong Nguyễn tộc thế phả là chính xác thì Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất dậu 1765, tức là chúng ta đã tổ chức đón sinh nhật lần thứ 250 năm của Nguyễn Du trước 10 ngày(2). Trong năm Kỷ niệm Nguyễn Du năm nay, nhiều cơ quan, địa phương trong cả nước tổ chức lễ hội văn hóa, hội thảo khoa học kỷ niệm Nguyễn Du, nhưng Hội thảo của chúng ta có niềm tự hào là hội thảo khép lại năm Nguyễn Du, đồng thời cũng là hội thảo được tổ chức gần ngày sinh Nguyễn Du nhất.

Nói đến Nguyễn Du, trước hết chúng ta nói đến những sáng tác ghi lại suy tư, cảm xúc cá nhân của ông, đó là thơ chữ Hán. Trong ba tập thơ chữ Hán để lại: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục, tập thơ nào cũng hay, cũng mang dấu ấn cá nhân rất rõ, nhưng trong đó phong phú nhất, sâu sắc nhất, để lại nhiều dư vang trong lòng người đọc nhất là Bắc hành tạp lục. Trong 14 tháng đi sứ Trung Hoa, về không gian Nguyễn Du đã đi ngược lên phía Bắc đến kinh đô Bắc Kinh Trung Quốc, thì về thời gian, Nguyễn Du đi ngược lên lịch sử hơn 4000 năm của Trung Quốc để điểm duyệt lại lịch sử và văn hóa của đất nước này. Đồng thời Nguyễn Du lần đầu tiên có những trải nghiệm cá nhân trực tiếp về đất nước vẫn được ngợi ca như hình mẫu lý tưởng của đất nước mình.

Ông không bị quy mô rộng rãi về địa lý, kích thước lớn lao của các công trình xây dựng, tầm vóc vĩ đại của nền văn hóa Trung Hoa che mất tầm nhìn của mình. Từ “những điều trông thấy” ông đã có những suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ và rất riêng về đất nước láng giềng này.

Ông nhìn thấy sự phân đôi trong lịch sử và xã hội Trung Hoa: có đất nước Trung Hoa của những kẻ thống trị sâu hiểm, trí trá, hám lợi, hám lập đại công, nhưng cũng có đất nước Trung Hoa của những người lương thiện, những trí thức tài năng bị phỉ báng, bị đọa đày; có Trung Hoa của những kẻ giàu có, thừa mứa, nhưng cũng có Trung Hoa của những người tha phương cầu thực, rách rưới, gầy gò, chết đói. Ông vỡ mộng về Trung Hoa:

Tưởng đây no ấm dồi dào,

Hay đâu đây cũng cheo neo khốn cùng.

(Chỉ đạo Trung Hoa tẫn ôn bão,

Trung Hoa diệc hữu phù như thị)

Thái Bình mại ca giả/ Người hát rong ở Thái Bình

Ông tỏ ra thất vọng về con đường Trung Hoa – con đường Trung Hoa không bằng phẳng, không khoáng đạt như ông từng nghe ngợi ca. Phải chăng điều ấy cũng thể hiện sự hoang mang về giới chính trị Trung Hoa, về mô hình Trung Hoa:

Mọi người đều nói đường Trung Hoa bằng phẳng,

Đường Trung Hoa lại như thế này ư!

Sâu hiểm quanh co như lòng người.

(Cộng đạo Trung Hoa lộ thản bình,

Trung Hoa đạo trung phù như thị,

Oa bàn khuất khúc tự nhân tâm)

Ninh Minh Giang chu hành/ Đi thuyền trên sông Ninh Minh

Giữa sự phân đôi của lịch sử và xã hội Trung Hoa, ông lựa chọn chỗ đứng cho người nghệ sĩ như mình. Ông đứng về phía những Tỷ Can, Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Văn Thiên Tường; những ông già hát rong ở thành Thái Bình, những người chết đói bên vệ đường trong cuộc chạy loạn, bốn mẹ con ăn xin mà ông thấy dọc đường, người đẩy xe trên đường nắng rát ở Hồ Nam… Vượt lên trên những định kiến hẹp hòi phân chia biên giới quốc gia, ông tìm thấy mối đồng cảm giữa mình với những người Trung Hoa khốn khổ kia ở tính người, ở kiếp người vất vả, khổ đau:

READ:  Soạn bài Văn bản tường trình ngắn gọn và hay nhất

Anh đẩy xe kia quê ở đâu,

Mình nhìn nhau, thấy đều vất vả như nhau.

(Hà xứ thôi xa Hán,

Tương khan lục lục đồng.)

Hà Nam đạo trung khốc thử/ Nắng rát trên đường đi Hà Nam

Bắc hành tạp lục có thể được coi như tác phẩm vĩ đại nhất trong kho tàng thơ ca chữ Hán hàng nghìn năm của dân tộc, nó vĩ đại không phải vì được sáng tác ra bởi tác giả Truyện Kiều mà từ giá trị tự thân của nó. Nhìn rộng ra, khi đặt tập thơ ấy bên cạnh những thi tập của Khuất Nguyên, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tô Đông Pha, Văn Thiên Tường, Lục Du… hay các nhà thơ chữ Hán Nhật Bản, Hàn Quốc, chúng ta cũng thấy nó không thua sút, dù chỉ một chút nào.

Nói đến Nguyễn Du, người Việt chúng ta cũng như bạn bè của chúng ta trên thế giới, đều nghĩ ngay đến Truyện Kiều – “khúc Nam âm tuyệt xướng” (từ dùng của Đào Nguyên Phổ).

Khi Nguyễn Du đưa cho người bạn của mình là Phạm Quý Thích cuốn Đoạn trường tân thanh để đi khắc in ở phố Hàng Gai (Thăng Long), ông không nghĩ tập giấy dó mỏng manh của mình sẽ trở thành kiệt tác và có số phận kỳ lạ vào bậc nhất trong các tác phẩm văn chương của xứ sở này. Nhưng với Phạm Quý Thích, bằng con mắt xanh hiếm có, ông đã tiên đoán ngay tác phẩm này sẽ có sức sống lâu dài: Bạc mệnh cầm chung oán hận trường (Tiếng đàn Bạc mệnh của Thúy Kiều đã dứt nhưng oán hận thì còn mãi).

Và quả vậy, từ khi Truyện Kiều được khắc in và truyền bá, thì từ vua quan cho tới thứ dân ai cũng đọc Kiều, mê Kiều. Các ông vua tài văn chương như Minh Mạng, Tự Đức tổ chức cuộc thi vịnh Kiều ở Kinh đô, các quan nhân – thi sĩ lừng danh triều Nguyễn đều đọc Kiều, bình Kiều và vịnh Kiều: Vũ Trinh, Nguyễn Lượng, Nguyễn Đăng Tuyển (Mộng Liên Đường Chủ Nhân), Phong Tuyết Chủ Nhân Thập Thanh Thị, Nguyễn Công Trứ, Hà Tông Quyền, Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Đào Nguyên Phổ… Người ta làm chèo về Kiều, tuồng Kiều, vẽ tranh Kiều, đố Kiều, tập Kiều, lẩy Kiều… Người dân coi việc biết Truyện Kiều là tiêu chuẩn của một người biết sống:

Làm trai biết đánh tổ tôm,

Uống trà mạn hảo, xem nôm Thuý Kiều.

Người nông dân cũng rất mê Kiều. Người ta ru Kiều, ngâm Kiều trên võng, bên bờ tre, ở bờ ruộng, rất nhiều người thuộc lòng Truyện Kiều… Truyện Kiều đi vào lời ăn tiếng nói, khúc ca điệu hát dân gian:

Sen xa hồ, sen khô hồ cạn,

Liễu xa đào, liễu ngả đào nghiêng.

Anh xa em như bến xa thuyền,

Như Thúy Kiều xa Kim Trọng biết mấy niên tái hồi.

Năm 1884-1885 Abel des Michels, bác sĩ đồng thời là giáo sư tiếng Việt ở Paris đã cho xuất bản Kim Vân Kiều tân truyện ở Nhà Ernest Leroux, Paris và thuyết trình về Truyện Kiều ở Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn Paris (Académie des Inscription et Belles – Lettres). Từ đây Truyện Kiều đã bước ra khỏi không gian quốc gia để bắt đầu cuộc hành trình đi đến thế giới. Từ Pháp, Truyện Kiều đi đến Nhật Bản, Trung Quốc, Tiệp Khắc, Ý, Anh, Đức, Nga, Ba Lan, Tây Ban Nha, đến tận A-rập, Hungary, rồi lại vòng về Hàn Quốc, Lào, Thái…Cho đến nay Truyện Kiều đã được dịch ra 23 thứ tiếng với gần 70 bản dịch khác nhau, và con số này chưa phải là con số cuối cùng.

Điều gì tạo nên sức hút của Truyện Kiều như thế?

Phải chăng vì Truyện Kiều kể cho ta nghe câu chuyện khổ đau của kiếp người qua bao nhiêu dâu bể? Con người bị săn đuổi, bị bao vây, dồn ép, bị mua đi bán lại, bị đày đọa mà không ai dám bênh vực, cứu giúp cho đến khi phải tự chọn lấy cái chết mới thôi.

Truyện Kiều chia sẻ với chúng ta, băn khoăn cùng chúng ta một câu hỏi lớn về “phận đàn bà” và cũng là số phận con người.

Truyện Kiều trong khi thể hiện các số phận khác nhau đã đi sâu vào phân tích tâm lý, từng ngõ ngách tế vi của tâm lý con người, làm cho các nhân vật trở nên vô cùng sống động, như có thể nhìn thấy ngoài đời, như có thể cầm tay, chào hỏi, trò chuyện. Đó là Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải, là Thúc Sinh, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Tú Bà…Những nhân vật từng bước thẳng từ trang văn ra đến cuộc đời.

Điều kỳ diệu nhất khiến cho Truyện Kiều còn hiện diện giữa chúng ta hôm nay chính là ngôn ngữ tác phẩm. Đó là một thứ ngôn ngữ nghệ thuật vô cùng phong phú và tinh tế; nó vừa có cái trang nghiêm cao cả, lại vừa có cái giản dị bình thường; vừa có cái hào hùng mạnh mẽ, lại cũng có cái trầm thống bi thương; vừa có cái mượt mà chải chuốt, lại vừa có cái thô ráp đời thường…Như suối nguồn, như vực sâu không bao giờ cạn. Truyện Kiều đã đưa tiếng Việt trở thành một thứ ngôn ngữ văn hóa sánh ngang với các ngôn ngữ lớn nhất trên thế giới. Truyện Kiều là bằng chứng hùng hồn nhất cho sức sống tiềm tàng của ngôn ngữ dân tộc, của văn hóa dân tộc, và cũng là của bản lĩnh dân tộc – một dân tộc dù gian khổ, tủi nhục bao nhiêu, nhưng vẫn không bao giờ chịu bị đồng hóa, không chịu cúi đầu.

Sức sống, sức lan tỏa tác phẩm của Nguyễn Du cho chúng ta những bài học sâu sắc về thái độ sống của người trí thức và quan niệm sáng tạo nghệ thuật của người cầm bút. Cuộc sống, đối với Nguyễn Du đó là sự lựa chọn và giải quyết mâu thuẫn giữa thái độ dấn thân làm người có ích nhưng đồng thời không bị vong thân trước quyền lực và danh lợi. Sáng tạo nghệ thuật, đối với Nguyễn Du, đó là con đường gian truân trong sự hoàn thiện tài năng, học vấn và nhân cách, đó là sự lựa chọn chỗ đứng của người nghệ sĩ: đứng về phía những người khốn khổ, những góc tối, góc khuất của cuộc đời để từ đó sáng tạo ra những tác phẩm chân thực, sâu sắc có sức rung động lòng người, giúp cho con người trở nên trong sáng, cao cả và đẹp đẽ hơn.

READ:  Soạn bài Tập đọc: Hành trình của bầy ong lớp 5

250 năm trôi qua, Nguyễn Du đã để lại sự nghiệp tuy không thật đồ sộ về mặt số lượng, chỉ có 3 tập thơ chữ Hán, một bài văn tế Nôm 184 câu thơ song thất lục bát và một cuốn truyện thơ Nôm 3254 câu lục bát, nhưng sức sống của nó lại vô cùng mạnh mẽ với những giá trị hết sức phong phú. Hơn 200 năm nghiên cứu, các nhà thơ, nhà văn, các nhà nghiên cứu phê bình đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về thân thế và tác phẩm của Nguyễn Du, đã chỉ ra nhiều giá trị ẩn tàng trong ấy. Tuy nhiên cũng vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra.

Thứ nhất là các vấn đề thuộc về tiểu sử của tác giả: quê hương, gia đình, cuộc đời tác giả. Những tư liệu liên quan đến những giai đoạn khác nhau của cuộc đời Nguyễn Du: “Mười năm gió bụi”, “Dưới chân núi Hồng”, “Làm quan cho triều Nguyễn” và nhất là sứ trình của Nguyễn Du. Kể từ khi kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du đến nay đã 50 năm nay, giới nghiên cứu đã tìm được thêm những tư liệu gì liên quan đến sứ trình của tập thơ Bắc hành tạp lục ở các kho lưu trữ Trung Quốc?

Thứ hai là vấn đề văn bản tác phẩm. Thơ chữ Hán Nguyễn Du có còn gì ngoài 249 bài thơ đã công bố trong cả 3 tập thơ của ông? Những câu đoạn rời rạc còn thấy đây đó trong các tài liệu Hán Nôm cho thấy thơ chữ Hán của Nguyễn Du còn nhiều hơn thế. Đặc biệt tác phẩm Truyện Kiều, chúng ta còn có khả năng tìm được văn bản của chính Nguyễn Du hay gần như vậy không? Văn bản khả tín nhất hiện nay là thế nào? Từng câu từng chữ trong tác phẩm, dù khơi gợi ra những cuộc tranh cãi bất tận, nhưng phương án tốt nhất là thế nào?

Thứ ba là thơ chữ Hán của Nguyễn Du và nhất là Bắc hành tạp lục, cần phải có bản dịch nghĩa, chú thích và dịch thơ tốt hơn nữa. Chúng ta có nên tổ chức thi dịch thơ chữ Hán của Nguyễn Du để từ đó chọn được những bản hay nhất, góp phần đưa Nguyễn Du đến gần hơn với người đọc?

Thứ tư là nghiên cứu phê bình Truyện Kiều. Bên cạnh việc đào sâu hơn nữa vào giá trị của tác phẩm, cũng cần phải nghiên cứu rộng ra sự tiếp nhận của đời sau đối với Truyện Kiều. Việc nghiên cứu một cách công phu, có hệ thống việc tiếp nhận Truyện Kiều ở phía Nam đất nước vẫn còn là một mảnh đất cần được khai phá thêm. Những Túy Kiều phú, Túy Kiều án, Kim Vân Kiều ca cho thấy những “phó bản” Truyện Kiều ở đất Nam Bộ còn rất phong phú. Việc mở rộng nghiên cứu những người anh em phương xa của Truyện Kiều ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc là một công việc hết sức thú vị. Những tư liệu xung quanh Kim Vân Kiều truyện còn rất phong phú, Truyện Kim Trọng và A Kiều của người Việt ở Quảng Tây (Trung Quốc), Kim Kiều truyện và Kim ngư truyện của Nhật Bản, khả năng truy tìm nhửng người anh em Truyện Kiều ở Hàn Quốc gợi cho học giới những chân trời mới hết sức rộng rãi.

Tất cả những vấn đề trên vẫn tiếp tục là những thách thức đối với các nhà nghiên cứu. Đó cũng là những vấn đề đặt ra trong Hội thảo hôm nay. Đọc qua các báo cáo gửi đến Hội thảo, chúng tôi vui mừng nhận thấy rằng Hội thảo Kỷ niệm 250 năm năm sinh Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du do Trường Đại học KHXH và Nhân văn – ĐHQG TP.HCM tổ chức đã đánh dấu một bước tiến mới, một bước tiến quan trọng trong việc nghiên cứu Nguyễn Du và Truyện Kiều. Chúng tôi mong muốn rằng, trong Hội thảo hôm nay, các nhà nghiên cứu giới thiệu các nghiên cứu của mình, bàn bạc tranh luận để làm rõ hơn những vấn đề đã nêu ra.

Tưởng nhớ đến Nguyễn Du, chúng ta tưởng nhớ một trong những người Việt Nam vĩ đại nhất của dân tộc chúng ta, một con người được sinh ra như là sự chung đúc của non sông đất nước, của nền văn hóa sâu sắc và phong phú của chúng ta, đồng thời cũng là một con người góp phần làm sâu sắc hơn, phong phú hơn văn hóa chúng ta, làm vẻ vang non sông đất nước chúng ta, góp phần làm cho dân tộc ta trường tồn và phát triển mãi mãi.

200 năm trước Nguyễn Du lo không có ai hiểu nỗi lòng mình – Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?, chúng ta không dám mạo muội làm người tri âm của ông, nhưng chúng ta là những người trân trọng tấm lòng của ông, trân trọng những đóng góp của ông đối với dân tộc. “Những đấng tài hoa” như ông “Thác là thể phách còn là tinh anh”. Chúng ta đến đây thắp nén hương lòng tưởng nhớ đến ông, cầm ngọn đuốc soi tỏ những trang văn “tinh anh” của ông và truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác, từ thế hệ chúng ta cho đến những thế hệ mai sau.

(Đoàn Lê Giang, Bình luận văn học, niên san 2015, tr.16-21)

Bài số 2

Thuyết minh về sự nghiệp văn học của tác giả Nguyễn Du – đại thi hào của dân tộc

Nguyễn Du là một đại thi hào dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, một nhà nhân đạo lỗi lạc có “con mắt nhìn thấu sáu cõi” và “tấm lòng nghĩ suốt ngàn đời” (Mộng Liên Đường chủ nhân).

Nguyễn Du, tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh năm 1765 (Ất Dậu) trong một gia đình có nhiều đời và nhiều người làm quan to dưới triều Lê, Trịnh. Cha là Nguyễn Nghiễm từng giữ chức Tể tướng 15 năm. Mẹ là Trần Thị Tần, một người phụ nữ Kinh Bắc có tài xướng ca.
Quê hương Nguyễn Du là vùng đất địa linh, nhân kiệt, hiếu học và trọng tài. Gia đình Nguyễn Du có truyền thống học vấn uyên bác, có nhiều tài năng văn học. Gia đình và quê hương chính là “mảnh đất phì nhiêu” nuôi dưỡng thiên tài Nguyễn Du.

READ:  Phân tích hai tính cách trái ngược của Gia-ve và Giăng-Van-giăng

Thời thơ ấu, Nguyễn Du sống trong nhung lụa. Lên 10 tuổi lần lượt mồ côi cả cha lẫn mẹ, cuộc đời Nguyễn Du bắt đầu gặp những sóng gió trong cơn quốc biến ba đào: sống nhờ Nguyễn Khản (anh cùng cha khác mẹ làm Thừa tướng phủ chúa Trịnh) thì Nguyễn Khản bị giam, bị Kiêu binh phá nhà phải chạy trốn. Năm 19 tuổi, Nguyễn Du thi đỗ tam trường rồi làm một chức quan ở tận Thái Nguyên. Chẳng bao lâu nhà Lê sụp đổ (1789) Nguyễn Du lánh về quê vợ ở Thái Bình rồi vợ mất, ông lại về quê cha, có lúc lên Bắc Ninh quê mẹ, nhiều nhất là thời gian ông sống không nhà ở kinh thành Thăng Long.

Hơn mười năm chìm nổi long đong ngoài đất Bắc, Nguyễn Du sống gần gũi nhân dân và thấm thìa biết bao nỗi ấm lạnh kiếp người, đặc biệt là người dân lao động, phụ nữ, trẻ em, cầm ca, ăn mày… những con người “dưới đáy” xã hội. Chính nỗi bất hạnh lớn trong cuộc đời đã hun đúc nên thiên tài Nguyễn Du – nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn.
Miễn cưỡng trước lời mời của nhà Nguyễn, Nguyễn Du ra làm quan. Năm 1813 được thăng chức Học sĩ điện cần Chánh và được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc. Năm 1820, ông lại được cử đi lần thứ hai nhưng chưa kịp đi thì mất đột ngột ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (18-9-1820). Suốt thời gian làm quan cho nhà Nguyễn, Nguyễn Du sống trầm lặng, ít nói, có nhiều tâm sự không biết tỏ cùng ai.

Tư tưởng Nguyễn Du khá phức tạp và có những mâu thuẫn: trung thành với nhà Lê, không hợp tác với nhà Tây Sơn, bất đắc dĩ làm quan cho nhà Nguyễn. Ông là một người có lí tưởng, có hoài bão nhưng trươc cuộc đời gió bụi lại buồn chán, Nguyễn Du coi mọi chuyện (tu Phật, tu tiên, đi câu, đi săn, hành lạc…) đều là chuyện hão nhưng lại rơi lệ đoạn trường trước những cuộc bể dâu. Nguyễn Du đã đứng giữa giông tố cuộc đời trong một giai đoạn lịch sử đầy bi kịch. Đó là bi kịch của đời ông nhưng chính điều đó lại khiến tác phẩm của ông chứa đựng chiều sâu chưa từng có trong thơ văn Việt Nam.

Nguyễn Du có ba tập thơ chữ Hán là: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục, tổng cộng 250 bài thơ Nôm, Nguyễn Du có kiệt tác Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều), Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn) và một số sáng tác đậm chất dân gian như Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu; vè Thác lèn trai phường nón.

Mở đầu Truyện Kiều, Nguyễn Du tâm sự:

“Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.

Chính “những điều trông thấy” khiến tác phẩm của Nguyễn Du có khuynh hướng hiện thực sâu sắc. Còn nỗi “đau đớn lòng” đã khiến Nguyễn Du trở thành một nhà thơ nhân đạo lỗi lạc.

Nguyễn Du là nhà thơ “đứng trong lao khổ mà mở hồn ra đón lấy tất cả những vang vọng của cuộc đời” (Nam Cao). Thơ chữ Hán của Nguyễ Du giống những trang nhật kí đời sống, nhật kí tâm hồn vậy. Nào là cảnh sống lay lắt, nào là ốm đau, bệnh tật cho đến cảnh thực tại của lịch sử… đều được Nguyễn Du ghi lại một cách chân thực (Đêm thu: Tình cờ làm thơ; Ngồi dèm…). Nguyễn Du vạch ra sự đối lập giữa giàu – nghèo trong Sở kiến hành hay Thái Bình mại giả ca… Nguyễn Du chống lại việc gọi hồn Khuất Nguyên về nước Sở của Tống Ngọc là bởi nước Sở “cát bụi lấm cả áo người” toàn bọ “vuốt nanh”, “nọc độc”, “xé thịt người nhai ngọt xớt”… Nước Sở cùa Khuất Nguyên hay nước Việt của Tố Như cũng chỉ là một hiện thực: cái ác hoành hành khắp nơi, người tốt không chốn dung thân. Truyện Kiều mượn bôi cảnh đời Minh (Trung Quốc) nhưng trước hết là bản cáo trạng đanh thép ghi lại “những điều trông thấy” của Nguyễn Du về thời đại nhà thơ đang sống. Phản ánh với thái độ phê phán quyết liệt, đó là khuynh hướng hiện thực sâu sắc trong sáng tác của Nguyễn Du.

Sáng tác của Nguyễn Du bao trùm tư tưởng nhân đạo, trước hết và trên hết là niềm quan tâm sâu sắc tới thân phận con người. Truyện Kiều không chỉ là bản cáo trạng mà còn là khúc ca tình yêu tự do trong sáng, là giấc mơ tự do công lí “tháo cũi sổ lồng”. Nhưng toàn bộ Truyện Kiều chủ yếu là tiếng khóc xé ruột cho thân phận và nhân phẩm con người bị chà đạp, đặc biệt là người phụ nữ.

“Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.

Không chỉ Truyện Kiều mà hầu hết các sáng tác của Nguyễn Du đều bao trùm cảm hứng xót thương, đau đớn: từ Đọc Tiểu Thanh kí đến Người ca nữ đất Long Thành, từ Sở kiến hành đến Văn tế thập loại chúng sinh… thậm chí Nguyễn Du còn vượt cả cột mốc biên giới, vượt cả ranh giới ta – địch và vượt cả sự cách trở âm dương để xót thương cho những kẻ chết trận, phơi “xương trắng” nơi “quỉ môn quan”.

Không chỉ xót thương, Nguyễn Du còn trân trọng, ca ngợi vẻ đẹp, cùng những khát vọng sống, khát vọng tình yêu hạnh phúc. Tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du đã vượt qua một số ràng buộc của ý thức hệ phong kiến và tôn giáo để vươn tới khẳng định giá trị tự thân của con người. Đó là tư tưởng sâu sắc nhất mà ông đem lại cho văn học Việt Nam trong thời đại ông.

Trên đây là chi tiết những ý chính để thuyết minh về sự nghiệp văn học Nguyễn Du và 2 bài văn thuyết minh mẫu mà các em có thể tham khảo, đừng quên tham khảo các bài văn mẫu lớp 9 hay khác trong chương trình học nữa em nhé!

Huyền Chu (Tổng hợp)

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: kiến thức chung