Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài ngắn gọn nhất

Hướng dẫn soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài của Nguyễn Huy Tưởng, gợi ý trả lời câu hỏi đọc hiểu trang 193 SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1.

Tài liệu hướng dẫn soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài nhằm phụ trợ các em trong quá trình tìm hiểu, phân tích những xung đột kịch, tính cách, diễn biến tâm trạng và bi kịch của Vũ Như Tô, Đan Thiềm trong đoạn trích. Qua đó, nắm được những nét đặc sắc về nghệ thuật của vở kịch Vũ Như Tô.

Với những hướng dẫn chi tiết trả lời câu hỏi sách giáo khoa dưới đây các em không chỉ soạn bài tốt mà còn nắm vững các kiến thức quan trọng của bài học này.

Cùng tham khảo…

Hướng dẫn soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài ngắn gọn nhất

Gợi ý trả lời các câu hỏi đọc hiểu và soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1.

Đọc – hiểu văn bản

Câu 1 trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Các mâu thuẫn cơ bản của kịch Vũ Như Tô được thể hiện cụ thể như thế nào trong hồi V?

Trả lời:

Các mâu thuẫn cơ bản của vở kịch Vũ Như Tô trong hồi V:

– Mâu thuẫn thứ nhất: Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động khốn khổ lầm than với bọn hôn quân bạo chúa và phe cánh của chúng đang sống xa hoa, trụy lạc. Mâu thuẫn này đã có từ trước, đến khi Lê Tương Dực bắt Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài thì càng trở nên căng thẳng.

– Mâu thuẫn thứ 2: Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời (Cửu Trùng Đài) và lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân.

=> Hai mâu thuẫn trên là hai mâu thuẫn cơ bản của vở kịch và được biểu hiện ở hồi V. Hai mâu thuẫn này có quan hệ mật thiết và tác động lẫn nhau.

Câu 2 trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Phân tích tính cách, diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô và Đan Thiềm trong đoạn trích.

Trả lời:

– Vũ Như Tô là một nhân vật lí tưởng được sáng tạo theo cảm hứng lãng mạn cùa Nguyễn Huy Tưởng. Qua việc xây dựng Cửu Trùng Đài người đọc thấy rõ đây chính là một nghệ sĩ có nhân cách, có lí tưởng nghệ thuật.

– Vũ Như Tô đúng là một tính cách phi thường dám sống chết với nghệ thuật. Người nghệ sĩ này không hề ham sống sợ chết, không hám lợi.

– Lúc đầu ông thà chết chứ không chịu xây Cửu Trùng Đài cho hôn quân. Lại lúc được vua thưởng cho vàng bạc lụa là ông đem chia hết cho thợ.

– Có thể nói Vũ Như Tô có tội là đã say mê nghệ thuật đến mức độ mù quáng. Cả tâm hồn chìm đắm trong giấc mộng “tranh tinh xảo với hóa công”, cho đến phút cuối của cuộc đời vẫn không hiểu được là vì sao mà mình bị quần chúng căm thù đến thế, vì sao mà Cửu Trùng Đài bị đập phá, bốc lửa.

– Vũ Như Tô đã sẵn sàng ra pháp trường.

=> Có thể nói đây là nhân vật được Nguyễn Huy Tưởng rất yêu mến. Ông miêu tả Vũ Như Tô đẹp với tư thế lẫm liệt kiên cường trước hôn quân Lê Tương Dực, gắn bó và bè bạn, với vợ con, đấu tranh cho quyền lợi giới thợ, sẵn sàng xả thân vì nghệ thuật.

Câu 3 trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời và lợi ích thiết thực của nhân dân chưa được tác giả giải quyết dứt khoát. Điều đó được thể hiện như thế nào ở hồi cuối cùng của vở kịch? Theo anh (chị) nên giải quyết mâu thuẫn ấy như thế nào?

Trả lời:

Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời và lợi ích thiết thân của nhân dân chưa được giải quyết dứt khoát: Quần chúng nổi dậy giết Vũ Như Tô, thiêu hủy Cửu Trùng Đài nhưng Vũ Như Tô vẫn chưa nhận ra bi kịch và sai lầm của mình. Việc giải quyết mâu thuẫn này phải nhờ vào sự giác ngộ của cả người nghệ sĩ và nhân dân.

Câu 4 trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Đặc sắc nghệ thuật của kịch Vũ Như Tô được thể hiện qua đoạn trích?

Trả lời:

Đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài đã thể hiện rất rõ đặc sắc nghệ thuật kịch của Nguyễn Huy Tưởng: ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao, qua ngôn ngữ và hành động kịch, tâm trạng và tính cách của nhân vật được diễn tả một cách sâu sắc, xung đột kịch được đẩy lên cao trào.

Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài phần Luyện tập

Câu hỏi luyện tập trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Trong lời đề tựa kịch Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng viết:

 “Than ôi! Như Tô phải hay những người giết Như Tô phải? Ta chẳng biết. Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”.

Bằng những hiểu biết về đoạn trích và về vở kịch, anh (chị) hãy phát biểu ý kiến của mình về lời đề tựa trên.

Trả lời:

– Nhà văn đã chân thành bày tỏ lỗi băn khoăn của mình: lẽ phải thuộc về cái đẹp hay hiện thực, người nghệ sĩ hay quần chúng nhân dân. Ông thú nhận “Ta chẳng biết”, tức là không thể đưa ra một lời giải đáp thoả đáng. Mâu thuẫn giữa cái đẹp, nghệ thuật và lợi ích thiết thực của nhân dân chỉ được giải quyết khi người nghệ sĩ có ý thức về hiện thực, sáng tạo dựa trên hiện thực, không xa rời cuộc sống, nhân dân, cũng đồng thời phải biết trân trọng và yêu quý cái đẹp.

– Nhà văn còn khẳng định: “Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”, nghĩa là yêu cái đẹp, nhạy cảm trước bi kịch của người nghệ sĩ.

Hướng dẫn soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài chi tiết

Gợi ý trả lời các câu hỏi đọc hiểu và soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài chi tiết, đầy đủ trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1.

Đọc – hiểu văn bản

Bài 1 trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Các mâu thuẫn cơ bản của kịch Vũ Như Tô được thể hiện cụ thể như thế nào trong hồi V?

Trả lời:

– Mâu thuẫn giữa phe nổi loạn và phe Lê Tương Dực.

+ Phe nổi loạn gồm nhiều nhân vật: dân chúng, thợ xây dựng Cửu Trùng Đài các nhân vật này đã xuất hiện từ trong những đoạn trước. Đoạn này, các nhân vật chỉ xuất hiện trong lời của Đan Thiềm: Dân gian đói kém nổi lên tứ tung. Khi dân nổi lên họ nông nổi vô cùng. Các nhân vật này cũng xuất hiện qua lời của tên nội gián: Thợ xây Cửu Trùng Đài quá nửa theo về quân phản nghịch.

+ Phe đối lập trong triều đình đứng đầu là Trịnh Duy Sản, sau Trịnh Duy Sản là Ngô Hạch, An Hoà Hậu (nhân vật này chỉ được nói đến chứ không xuất hiện). Mâu thuẫn này trong hồi 5 đã lên đến đỉnh điểm và đã được giải quyết dứt điểm. Trịnh Duy Sản, Ngô Hạch giết chết Lê Tương Dực. Đây là mâu thuẫn bị chi phối bởi các mâu thuẫn khác và được các mâu thuẫn ấy làm cho tăng lên.

– Mâu thuẫn giữa phe Trịnh Sản với Kim Phượng và các cung nữ vì coi đó là phương tiện hành lạc của Lê Tương Dực cũng được đẩy lên ở đỉnh cao, Kim Phượng và cung nữ đã lái sự căm ghét đó sang Đan Thiềm, Vũ Như Tô để mong bớt tội, mong thoát mũi kiếm trừng phạt của Ngô Hạch.

– Bản thân mâu thuẫn trong con người Vũ Như Tô cũng được thể hiện rõ trong hồi thứ 5 này. Một phần lớn thợ xây Cửu Trùng Đài tham gia cuộc nổi loạn vì họ bị đói khổ (vì bị ăn chặn, chết, bị thương, vì tai nạn, bệnh dịch,… chính bản thân Vũ Như Tô cũng bị đã đè vào chân), một số thợ bị Vũ Như Tô chém (để duy trì quân số và kỉ luật lao động trên công trường xây Cửu Trùng Đài). Đan Thiềm cũng bị nhiều thợ oán như oán Vũ Như Tô vì biết Đan Thiềm “xui” Vũ Như Tô nhận xây Cửu Trùng Đài.

Vũ Như Tô vì say sưa với công trình nghệ thuật, quên cả thực tế và lòng dân. Đến khi cuộc nổi loạn nổ ra, Đan Thiềm báo cho Vũ Như Tô biết bị giết đến nơi nhưng Vũ Như Tô vẫn không chịu đi vì cho rằng mình là người vô tội, còn muốn chứng minh sự quang minh chính đại của mình, còn hi vọng thuyết phục được An Hoà Hầu. Và đặc biệt là Vũ Như Tô muốn sống chết với Cửu Trùng Đài, vì ông coi Cửu Trùng Đài là lẽ sống, nếu Cửu Trùng Đài bị phá thì ông cũng không thiết sống nữa. Đây là mâu thuẫn giữa con người công dân và con người nghệ sĩ trong Vũ Như Tô và Đan Thiềm, tập trung ở Vũ Như Tô (tức là mâu thuẫn giữa lòng căm ghét tên hôn quân với khát vọng xây dựng một công trình nghệ thuật lớn cho đất nước, cho đời sau).

– Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời (Cửu Trùng Đài) và lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân.

+ Mâu thuẫn này có nguồn gốc từ nguyên nhân sâu xa: người chiến sĩ thiên tài có khát vọng, hoài bão muốn mang cái đẹp đến cho đời, làm dân tộc tự hào vì trong một xã hội thối nát, người dân đói khổ triền miên trong lầm than

+ Hoàn cảnh đất nước không tạo điều kiện cho Vũ Như Tô thực hiện điều đó

+ Vũ Như Tô nghe theo lời khuyên của Đan Thiềm mượn uy quyền, tiền bạc của hôn quan Lê Tương Dực để thực hiện khát vọng xây dựng công trình nguy nga

+ Niềm khao khát sáng tạo, cống hiến lại đối nghịch với thực trạng lợi ích và mong muốn của nhân dân.

Bài 2 trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Phân tích tính cách, diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô và Đan Thiềm trong đoạn trích.

Trả lời:

* Tính cách và diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô

– Vũ Như Tô là một người nghệ sĩ chân chính, một người có tài và có tâm với nghệ thuật.

– Ông nghe theo lời khuyên của Đan Thiềm, nhận xây dựng Cửu Trùng đài là vì mục đích nghệ thuật rất cao cả. Ông là người nghệ sĩ chỉ quan tâm đến nghệ thuật. Trong hồi kịch này, khi binh lính nổi dậy, kết tội ông và đòi hủy diệt Cửu Trùng Đài, ông vẫn không thể hiểu nổi tại sao lại như vậy. Vũ Như Tô quá chú ý đến nghệ thuật mà quên đi quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Ông luôn ở trong tâm trạng mơ màng, ảo vọng. Ông không thể hiểu và không tin tâm huyết của mình đối với đất nước lại bị coi thường.

=> Nghệ sĩ vỡ mộng trước thực tế đau xót của đất nước, nhân dân mà lâu nay đã không nhìn thấy do ông chỉ chạy theo cái lí tưởng của nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời.

* Tính cách và diễn biến tâm trạng của Đan Thiềm

– Đan Thiềm là một người có tâm, biết trọng người tài, tôn trọng nghệ thuật. Bà kính trọng tài năng của Vũ Như Tô, bà hiểu công việc sáng tạo nghệ thuật của ông. Nhưng chính Đan Thiềm đã sai lầm và cuối cùng bà cũng nhận ra sai lầm của mình khi khuyên Vũ Như Tô nhận lời xây dựng Cửu trùng đài. Trước khi chết, bà đã nhận ra sự thất bại của giấc mộng lớn mà bà và Vũ mong mỏi thực hiện. Nhìn cảnh Cửu trùng đài bị đốt, Vũ Như Tô bị giết, bà đã đau đớn cất lên “Đài lớn tan tành. Ông Cả ơi! Xin cùng ông vĩnh biệt!”.

=> Đan Thiềm và Vũ Như Tô là hai kẻ tri âm, tri kỉ, cùng có một mục đích nghệ thuật tốt đẹp nhưng cuối cùng đều thất bại. Và cả Cửu Trùng đài, tâm huyết của hai người cũng bị phá huỷ. Hai con người đáng thương, đáng trọng hơn là đáng trách. Nhà văn đã bộc lộ sự cảm thông và trân trọng của ông đối với hai con người tri âm tri kỉ và bất hạnh này.

Bài 3 trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời và lợi ích thiết thực của nhân dân chưa được tác giả giải quyết dứt khoát. Điều đó được thể hiện như thế nào ở hồi cuối cùng của vở kịch? Theo anh (chị) nên giải quyết mâu thuẫn ấy như thế nào?

Trả lời:

Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật thuần túy và lợi ích thiết thực của nhân dân là mâu thuẫn không dễ giải quyết. Vì thế, việc Nguyễn Huy Tưởng chưa giải quyết triệt để được mâu thuẫn này là điều dễ hiểu. Nhà văn để cho Vũ Như Tô bị giết mà không hiểu tại sao. Đan Thiềm, Vũ Như Tô cùng Cửu Trùng Đài bị hủy diệt đã đặt ra một vấn đề lớn, vấn đề quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Với đoạn trích Vĩnh biệt Cửu trùng đài, Nguyễn Huy Tưởng đã giải quyết được phần nào mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Nghệ thuật đích thực phải thống nhất với quyền lợi của con người. Nghệ thuật chân chính là nghệ thuật vì con người. Người nghệ sĩ khi làm nghệ thuật phải chú ý đến điều đó.

Việc quần chúng giết Vũ Như Tô có lí đúng: nếu Vũ Như Tô không xây Cửu Trùng Đài thì chắc Lê Tương Dực không thể xây được Cửu Trùng Đài, gây thiệt hại cho nhân dân. Nhưng quần chúng nhân dân trong cơn nông nổi giận dữ, có thể chưa hiểu hết Vũ Như Tô. Quần chúng lúc đó cũng chưa nghĩ đến công sức của chính mình bỏ ra cho công trình nghệ thuật mà có thể lưu lại cho con cháu muôn đời sau. Việc nổi dậy giết Lê Tương Dực là đúng, việc tạm hoãn xây Cửu Trùng Đài là đúng nhưng việc giết Vũ Như Tô là quá tay và việc phá huỷ Cửu Trùng Đài là không nên.

Bài 4 trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Đặc sắc nghệ thuật của kịch Vũ Như Tô được thể hiện qua đoạn trích?

Trả lời:

– Mâu thuẫn kịch tập trung dẫn đến cao trào, phát triển thành đỉnh điểm với những hành động kịch dồn dập đầy kịch tính.

– Ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao.

– Xây dựng nhân vật kịch đặc sắc, khắc họa rõ tính cách, miêu tả đúng tâm trạng qua ngôn ngữ và hành động.

– Lớp kịch trong hồi V được chuyển một cách linh hoạt, tự nhiên, logic, liền mạch tạo nên sự hấp dẫn và lôi cuốn người đọc.

Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài phần Luyện tập

Câu hỏi luyện tập trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Trong lời đề tựa kịch Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng viết:

 “Than ôi! Như Tô phải hay những người giết Như Tô phải? Ta chẳng biết. Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”.

Bằng những hiểu biết về đoạn trích và về vở kịch, anh (chị) hãy phát biểu ý kiến của mình về lời đề tựa trên.

Trả lời:

– Đây là phần cuối của lời đề tựa vở kịch Vũ Như Tô do chính Nguyễn Huy Tưởng viết ngày 6 tháng 2 năm 1942, sau khoảng một năm viết xong tác phẩm.

– Tựa là phần nằm ngoài văn bản của một tác phẩm, được viết ở đầu sách hoặc sau tiêu đề của mỗi chương trong cuốn sách nhằm hướng người đọc vào ý đồ nghệ thuật của tác giả hoặc tư tưởng của tác phẩm.

– Qua lời đề tựa trên, Nguyễn Huy Tưởng đã chân thành bộc lộ những băn khoăn của mình: Lẽ phải thuộc về Vũ Như Tô hay những kẻ giết Vũ Như Tô? Và ông thú nhận “Ta chẳng biết“, tức là không thể đưa ra một lời giải đáp thoả đáng. Qua vở kịch, có thế thấy chân lí không hoàn toàn thuộc về phía nào: Việc mất Cửu Trùng Đài vừa nên mừng, vừa nên tiếc. Đồng thời, nhà văn khẳng định: “Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm“, tức là vì cảm phục “tài trời”, vì nhạy cảm với bi kịch của những tài năng siêu việt mà thôi.

Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng đài nâng cao

Đọc tài liệu tổng hợp hướng dẫn soạn văn bài Vĩnh biệt Cửu trùng đài chương trình nâng cao theo sách giáo viên để các em học sinh tham khảo kiến thức.

Câu hỏi 1

Trong phần Tiểu dẫn, SGK đã nêu sự việc, tình tiết thuộc Hội V như sau : Lợi dụng tình hình rối ren và mâu thuẫn ấy, Trịnh Duy Sản cầm đầu một phe cánh đối nghịch trong triều đình đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ thuyền làm phản, giết Lê Tương Dực, Vũ Như Tô, Đan Thiềm và thiêu huỷ Cửu Trùng Đài.

Biết tin có binh biến, bạo loạn trong phủ chúa, nguy hiểm đến tính mạng Vũ Như Tô, Đan Thiềm hết lời khuyên và giục ông đi trốn. Nhưng Vũ Như Tô khăng khăng không nghe và tự tin mình “quang minh chính đại”, “không làm gì nên tội” và hy vọng ở chủ tướng An Hoà Hầu. Tình hình càng lúc càng nguy kịch :

Lê Tương Dực bị giết, đại thần, hoàng hậu, cung nữ của y cũng vạ lây, Đan Thiêm bị bắt,… Kinh thành điên đảo. Khi quân khởi loạn đốt Cửu Trùng Đài thành tro, Vũ Như Tô mới tỉnh ngộ. Ông trơ trọi, đau đớn vĩnh biệt Cửu Trùng Đài rồi bình thản ra pháp trường.

Câu hỏi 2

– Mâu thuẫn thứ nhất : mâu thuẫn giữa đời sống xa hoa, truy lạc của bạn tham quan bạo chúa với đời sống cơ cực, thống khổ của nhân dân lao động (nói gọn lại là mâu thuẫn giữa lợi ích của bạo chúa với quyền sống của thường dân, tất yếu sẽ dẫn đến việc dân chúng nổi dậy diệt trừ tên bạo chúa và tất cả những kẻ bị xem là cùng phe cánh của hắn ở hồi cuối của vở kịch).
Mâu thuẫn này chủ yếu thể hiện ở những hội trước của vở kịch, đã thành cao trào trong hồi cuối này. Bạo chúa Lê Tương Dực chết trong tay những người nói đây do Trịnh Duy Sản cầm đầu. Đại thần của y gian thân Nguyễn Vũ) chết trong một trò hề nhạt nhẽo. Hoàng hậu và đảm cung nữ hết thời của y bị những kẻ nổi loạn nhục mạ, bắt bớ, Dân chúng reo hò, đốt phá, nhiếc móc,… được một phen hả lòng hả dạ. Uy quyền của bạo chúa tiêu tan theo tro bụi Cửu Trùng Đài. Đây đúng là lúc “dân nổi can qua”, vua quan “thất thể”. Tiếc rằng cuộc nổi dậy ấy không thể mang lại điều gì tốt đẹp hơn cho dân chúng bởi giang sơn sẽ vào tay những kẻ cắm đầu cuộc phản loạn (tức phe cánh của Trịnh Duy Sản).

– Mâu thuẫn thứ hai : Lâu thuẫn giữa niềm khao khát hiện đang tất cả cho nghệ thuật của người nghệ sĩ đắm chìm trong mơ mộng với lợi ích trực tiếp và thiết thực của đời sống nhân dân.
Mâu thuẫn này xuất phát từ nguyên nhân sâu xa của bi kịch : người nghệ sĩ thiên tài không có điều kiện sáng tạo, không thể thi thố tài năng. Nhưng trên thực tế anh ta lại vẫn chỉ là một thợ thủ công và danh tiểu tốt! Vì thế, khi biết rằng có thể mượn tay bạo chúa Lê Tương Dực mà thực hiện được hoài bão của mình thì anh ta sẵn sàng bất chấp tất cả, kể cả khi phải trả bằng công sức, tiền bạc của nhân dân, bằng mồ hôi, xương máu của những người thợ. Chính niềm khao khát của người nghệ sĩ đắm chìm trong mơ mộng đã đẩy Vũ Như Tô đến vị thế đối nghịch với lợi ích trực tiếp và thiết thực của đời sống nhân dân. (Đài công xây cao thì càng tốn kém nhiều, tổn thất lớn, lại thêm các đại nạn, đại địch, thế là dù muốn dù không, Vũ Như Tô đã bất đắc dĩ thành kẻ thù của nhân dân). Cuối vở kịch, người ta không chỉ nguyền rủa tác giả Cửu Trùng Đài như nhiều người đã bán trách, nguyền rủa mà còn theo lời những kẻ cầm đầu cuộc nổi loạn đột phá tan tành Giu Trùng Đài, bắt bớ và trừng phạt tác giả của nó. Đây là lúc mâu thuẫn, xung đột kịch đã được đáy lên đến đỉnh điểm. Và nếu như trong những hói đầu, nó chỉ là mâu thuẫn tiềm ẩn, có vẻ mờ nhạt, thấp thoáng đằng sau mâu thuẫn thứ nhất, thì giờ đây, nó hầu như đã nhập hoà làm một với mâu thuẫn thứ nhất. Thậm chí người dân hầu như không mấy quan tâm đến việc trả thù bạo chúa Lê Tương Dực – việc này đã có phe cánh Trịnh Duy Sản đảm nhiệm – mà chỉ chăm chăm truy diệt nhanh thầy” Vũ Như Tô và người cung nữ “đồng bệnh” với ông là Đan Thiềm.

Câu hỏi 3

a) Tính cách, diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô, Đan Thiềm

– Tính cách nổi bật nhất của Vũ Như Tô là tính cách của người nghệ sĩ tài ba, hiện thân cho niềm khát khao và đam mê sáng tạo Cái Đẹp. Nhưng trong một hoàn cảnh cụ thể, Cái Đẹp ấy thành ra phù phiếm, nó sang trọng, siêu đẳng, thậm chí “cao cả và đẫm máu” như một bông hoa ác”. Vì thế, đi tận cùng niềm đam mê, khao khát ấy, Vũ Như Tô tất phải đối mặt với bi kịch đau đớn của đời mình. Ông trở thành kẻ thù của dân chúng, thợ thuyền mà không hay biết.

Cái tài ba được nói đến chủ yếu ở các hổi, lớp trước thông qua hành động của Vũ Như Tô và nhất là lời của các nhân vật khác nói về ông. Hỏi ý không nói nhiều đến tài năng của nhân vật (chỉ duy nhất có Đan Thiểm nhắc đến), mà đạt Vũ Như Tô vào việc tìm kiếm một câu trả lời : Xây đài Cửu Trùng là đúng hay sai ? Có công hay có tội ? Nhưng Vũ Như Tô không trả lời được thoả đáng câu hỏi đó bởi ông chỉ đứng trên lập trường của người nghệ sĩ mà không đứng trên lập trường của nhân dân, đứng trên lập trường Cái Đẹp mà không đứng trên lập trường Cái Thiện. Hành động của ông không hướng đến sự hoà giải mà thách thức và chấp nhận sự huỷ diệt. Vũ Như Tô đã từng tranh tinh xảo với hoả công, giờ lại bướng bỉnh tranh phải – trái với số phận và với cuộc đời. Hành động kịch hướng vào cuộc đua tranh này thể hiện qua diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô.

– Nếu Vũ Như Tô là người đam mê Cái Đẹp và khát khao sáng tạo Cái Đẹp thì tính cách của Đan Thiềm là tính cách của người đam mê Cái Tài, cụ thể là tài sáng tạo nên Cái Đẹp “Bệnh Đan Thiềm” (như chữ của Nguyễn Huy Tưởng là bệnh mê đắm người tài hoa, hay bệnh của kẻ “biệt nhôm liên tài” (như chữ của Nguyễn Tuân). Nhưng Cái Tài ở đây không phải Cái Tài nói chung mà là Cái Tài siêu việt siêu đẳng, Đan Thiềm có thể quên mình để khích lệ, bảo vệ Cái Tài ấy, nhưng nàng luôn tinh tế, sáng Máy trong mọi trường hợp vi hàng hiếu người, hiện đại hóa, thức thời.

Như vậy, diễn biến tâm trạng của hai nhân vật ở hối cuối này góp phần thể hiện tính cách bi kịch ở mỗi người cũng như những gì được xem là “đống bệnh”, “tri ân” (hay đồng điệu) ở họ, đồng thời qua đó, góp phần khơi sâu hơn chủ đề của tác phẩm.

c) Về thái độ của nhà văn và cách đánh giá hai nhân vật Vũ Như Tô, Đan Thiềm

Đây là vấn đề thú vị nhưng rõ ràng không đơn giản. Bởi vì, trong khi bàn bạc, trao đổi, một mặt, ta cần phân biệt thái độ, cảm hứng và quan niệm thẩm mĩ của nhà văn qua hình tượng nhân vật ấy. Mặt khác, cũng phải thấy rằng, thái độ và Cách đánh giá của Nguyễn Huy Tưởng đối với các nhân vật chắc chắn cũng không luôn luôn đồng nhất với thái độ, cách đánh giá của các nhân vật ấy đối với nhân vật khác và đối với chính mình.

– Có thể hiểu thái độ, cách đánh giá của Nguyễn Huy Tưởng về Vũ Như Tô qua thái độ, cách đánh giá của Đan Thiềm đối với nhân vật này (“Cảm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”). Đan Thiem cảm phục, trân trọng Vũ Như Tô nồng nhiệt đến quên mình. Nhưng Nguyễn Huy Tưởng cũng thận trọng, tỉnh táo nhân Ta Vũ Như Tô chỉ là người tài, chưa phải bậc hiền tài, cái đẹp mà Vũ Như Tô có thể tạo ra là tuyệt mĩ mà không tuyệt thiện. Chân lí chỉ thuộc về Vũ Như Tô một nửa, còn nửa kia thuộc về đời sống của dân chúng. Như vậy, nói chung Vũ Như Tô và Đan Thiềm là tính cách đa diện, phức tạp. Thái độ nhà văn, chủ yếu là trân trọng cái tài, khâm phục cái hoài bão, cảm thông với bi kịch của Vũ Như Tô, không thể là thái độ ngợi ca một chiều và có những chỗ ông không đồng tình với nhân vật của mình.

– Thái độ của người đọc và của HS khi tiếp nhận hình tượng nhân vật, chắc chắn cũng sẽ không giống nhau, thậm chí ngược nhau. Nhưng khi phát biểu phải tỏ ra có lí lẽ, có cơ sở lập luận riêng.

Câu hỏi 4

– Trong lời để tựa viết một năm sau khi viết xong vở kịch, chính Nguyễn Huy Tưởng đã công khai bày tỏ nỗi băn khoăn của mình: Đài Cửu Trùng không thành, nên mừng hay nên tiếc ?”, “Chẳng biết Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải […]- Than ôi, Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải ? Ta chẳng biết – Cắm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”. Các mâu thuẫn nói chung thường chỉ có thể giải quyết bằng hai cách : hoặc bằng cách triệt tiêu (phủ định dứt khoát hẳn một phía, để thắng lợi cho phía kia), hoặc bằng cách hoà giải (điều hoà, cải biến cả hai phía). Chẳng hạn, với mâu thuẫn thứ nhất, nhân dân nổi dậy giết bạo chúa là xong (triệt tiêu), nhưng mâu thuẫn thứ hai chỉ có thể giải quyết theo cách hoà giải. Thế mà xem ra đã không có một cuộc hoà giải nào (cơ hội duy nhất để chờ hoà giải là Vũ Như Tô phải tạm thời trốn đi, chờ thời. Nhưng Vũ Như Tô vừa mù quáng vừa cố chấp nên cơ hội này bị bỏ qua). Ở đây, nhân dân còn hổ đổ, mù quáng hơn cả Vũ Như Tô, họ những tưởng đốt xong Cửu Trùng Đài là xong xuôi mọi sự. Cửu Trùng Đài bị đốt, nhưng Vũ Như Tô vẫn không hiểu gì và không thể quan tâm đến lợi ích thiết thực của nhân dân. Ông đi ra pháp trung bình thản nhám cái chết, cũng như Đan Thiêm bị coi như một kẻ thù sẽ bị xử giáo, coi như giá trị lớn bị huỷ diệt. Hai giá trị – Cái Đẹp Và Cái Thiện đã không thể điều hoà, chung sống với nhau. Cái Đẹp bị tiêu diệt thì Cải Thiện cũng không còn đất sống.

– Mâu thuẫn và tính không dứt khoát trong cách giải quyết mâu thuẫn này được thể hiện tập trung trong khối cuối của vở kịch. Cửu Trùng Đài sụp đổ và bị đốt cháy, nhân dân trước sau vẫn không hiểu gì về việc sáng tạo của nghệ sĩ. Trước, họ nguyền rủa việc xây dựng Cửu Trùng Đài, giờ đây, họ hả hê đột phá. Họ càng không hiểu nổi Đan Thiềm, Vũ Như Tô cũng như “mộng lớn” của hai nhân vật – hiện thân cho Tài – Sốc này. Về phía khác, Đan Thiểm không cứu được Vũ Như Tô bằng lời khuyên của nàng, mặc dù trong mắt Vũ Như Tô, nàng là người tri kỉ, đống bệnh, lại là “viên ngọc quý”, “trí sáng như vầng nhật nguyệt”, Vũ Như Tô vẫn không thể, không bao giờ hiểu được việc làm của quần chúng và của phe cánh nổi loạn. Nếu Vũ Như Tô nghe lời, trốn đi thì có thể mâu thuẫn sẽ giải quyết theo một hướng khác chăng?

Thực ra, đây là mâu thuẫn mà có lẽ không bao giờ và không ai giải quyết cho thật dứt khoát, ổn thoả được. Bởi vì nó mang tính phổ quát và mang tầm nhìn lại 3 thực chất là biểu hiện của mâu thuẫn giữa nghệ sĩ và nhân dân, giữa Cái Đẹp (thuần tuý, siêu đẳng) và Cái Thiện trong một số hoàn cảnh, trường hợp đặc biệt. Mâu thuẫn này chỉ có thể giải quyết được ổn thỏa khi đời sống tinh thần của nhân dân, nhu cầu về Cái Đẹp được nâng cao lên.

Với một để tựa như thế, đủ để biết từ trong ý đồ nghệ thuật cho đến việc thể hiện ý đồ ấy, nhà văn đã tạo ra một suy tư lơ lững mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật thuần tuý của muôn đời và lợi ích thiết thực của đời sống nhân dân. Việc giải quyết ổn thoả mâu thuẫn này phải nhờ vào lịch sử và sự giác ngộ của cả nghệ sĩ và nhân dân.

Câu hỏi 5

Bằng một ngôn ngữ kịch có tính tổng hợp rất cao, nhất là trong hội cuối của Vũ Như Tô, nhà văn đã đồng thời khắc họa tính cách, miêu tả tâm trạng, dẫn dắt hành động xung đột kịch rất thành công, tạo nên một bức tranh đời sống bi kịch rất hoành tráng trong nhịp điệu bão tố của nó. GV có thể lưu ý thêm một số điểm như sau:

– Nhịp điệu được tạo ra thông qua nhịp điệu của lời nói – hành động nhất là qua khẩu khỉ, nhịp điệu, sắc thái lời cuối – hành động của những người khác trong vai trò đưa tin, nhịp điệu “ra”, “vào” của các nhân vật đầu và cuối mỗi lớp – các lớp đều ngắn, có những lớp rất ngắn : chỉ vài ba lượt thoại nhỏ ; những tiếng reo, tiếng thét, tiếng động dội từ hậu trường, phản ánh cục diện, tình hình nguy cấp, điên đảo trong các lời chỉ dẫn sân khấu hàm súc của tác giả). Với một ngôn ngữ có tỉnh tổng hợp (kể, miêu tả, bộc lộ,…) và tính hành động rất cao như vậy, người ta dễ dàng hình dung cả một không gian bạo lực kinh hoàng trong một nhịp điệu chống mật : Lê Tương Dực bị Ngô Hạch giết chết, hoàng hậu nhảy vào lửa tự vẫn (qua lời kể của Lê Trung Mại), Nguyễn Vũ tự tử bằng dao (ngay trên sân khấu), Đan Thiềm suýt bị bọn nội giám thắt cổ ngay tại chỗ, Vũ Như Tô ra pháp trường nổi tiếng nhiếc móc, chửi rủa, la ó, than khóc, máu, nước mắt,… tất cả hàng thực như trên một cái chảo dầu sôi khổng lồ.

Mỗi lần Đan Thiềm cũng như Vũ Như Tô xuất hiện (với Công trình Cửu Trùng Đài đang xây) trên sân khấu đều đánh dấu một biến động lớn của hành động kịch. (Cảnh thứ nhất : Hối L, lớp 7; cả thứ hai : Hồi III, lớp 9; cảnh thứ ba : Hồi V, lớp 7, 8, 9, Hỏi: đài cao sắp mọc, tinh tri kỉ nảy sinh ; Hồi III: Đài Cửu Trùng đang mọc lên dang dở nhưng đẹp và kì vĩ lắm, tình tri kỉ gắn bó tha thiết ; Hồi V: Cửu Trùng Đài sụp đó, người tri kỉ, tinh tri kỉ chìm trong cái chết bi thương).

– Là một vở kịch lịch sử, Vũ Như Tô Tất nhiên được viết dựa trên sự liệu : sự kiện, nhân vật lịch sử, bối cảnh lịch sử. Điều quan trọng là tác giả đã khai thác, vận dụng các sử liệu ấy như thế nào cho phù hợp với yêu cầu của bi kịch. Và lịch sử có logic, quy luật riêng của nó. Nhiều khi thật tàn khốc, lạnh lùng. Cái lõi lịch sử đưa nhà văn khai thác ở đây là câu chuyện Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài cho Lê Tương Dực (như sách Đại Việt sử kí và Việt sử thông giám Cường lực ghi lại). Đài xây dang dở, người thợ tài hoa Vũ Như Tô đã phải chịu cái chết oan khốc. Ở đây, để góp phần làm nên cái khung cảnh và không khí bỉ trắng của lịch sử, tác giả đã đạt hành động kịch vào trong một cung cấm” ; nhiều nhân vật kịch là những nhân vật lịch sử ; nhiều tên đất, tên người gắn với triều Lê. Đúng như lời chỉ dẫn sân khấu của tác giả : sự việc trong vở kịch xảy ra ở Thăng Long trong khoảng năm 1916 – 1517, dưới triều Lê Tương Dực.

Câu hỏi 6

Để thực hiện yêu cầu của câu hỏi này, HS trước hết cần nhận biết đúng các lời chú thích nghệ thuật, các lời thoại đầy kịch tính, sau đó, phân tích được giá trị tạo hình và biểu tượng của chúng.

Ví dụ : Đọc kĩ và phân tích một đoạn thoại trong lớp cuối cùng của vở kịch.

Trong lớp này, trực tiếp tham gia vào hành động trên sân khấu có các nhân vật : Vũ Như Tô, Ngô Hạch, lũ quân, quân sĩ. Kịch tính ở đây chủ yếu được biểu hiện thông qua các lời thoại (gồm cả đối thoại và độc thoại) giữa hai thế lực đối nghịch ; một bên là quân phản loạn, nhân danh sức mạnh quyền lợi của dân chúng mà đốt phá, truy diệt phe đảng của vương triều cũ ; một bên là người thợ cả lừng danh, nhân danh hoài bão nghệ thuật cao đẹp mà xây đài cho bạo chúa.

Bên cạnh các lời thoại, các chỉ dẫn sân khấu được sử dụng để tạo dựng tình huống, bối cảnh cho diễn xuất. Chẳng hạn, lời LŨ QUÂN -… Cửu Trùng Đài sắp là một đống tro tàn !”; chú thích nghệ thuật:”(Chợt có ánh lửa sáng rực, cả tàn than, bụi khói bay vào)”; và “VŨ NHƯ TÔ (nhìn ra, rú lên) – Đốt thực rồi ! Đốt thực rồi ! Ôi đảng ác ! Ôi muôn phần căm giận ! Trời ơi ! Phủ cho ta cái tài làm gì ? Ôi mộng lớn ! Ôi Đan Thiềm ! Ôi Cửu Trùng Đài ! (có tiếng hô vui vẻ : “Cửu Trùng Đài đã cháy !”); QU N SĨ – Thực đáng ăn mừng. VŨ NHƯ TÔ (chua chát) – Thôi thế là hết. Dẫn ta đến pháp trường !”.

Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm

I. Tác giả

1. Cuộc đời

– Nguyễn Huy Tưởng sinh 6 – 5 – 1912 trong một gia đình nhà nho ở Bắc Ninh (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội).

– Sớm tham gia cách mạng và phong trào văn hoá cứu quốc, Nguyễn Huy Tưởng còn là đại biểu quốc hội khoá I.

– Là nhà văn có thiên hướng khai thác đề tài lịch sử và có những đóng góp nổi bật ở thể loại tiểu thuyết và kịch.

2. Sự nghiệp sáng tác

Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn thành công với nhiều thể loại văn học, cụ thể:

– Kịch: Vũ Như Tô (1941), Bắc Sơn (1946), Những người ở lại (1948).

– Kịch bản phim Luỹ hoa (1960).

– Tiểu thuyết: Đêm hội Long Trì (1942), An Tư (1945), Sống mãi với thủ đô (1961)

– Kí: Kí sự Cao Lạng (1951)

3. Phong cách nghệ thuật

– Văn phong của Nguyễn Huy Tưởng trong sáng, giản dị, đôn hậu nhưng thâm trầm, sâu sắc.

– Ông nổi tiếng với các tác phẩm viết về đề tài lịch sử và có đóng góp lớn ở thể loại tiểu thuyết và kịch.

II. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh xuất xứ

Vũ Như Tô là vở kịch 5 hồi, viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 – 1517 dưới triều Lê Tương Dực.

– Đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” nằm trong hồi V (Một cung cấm) của vở bi kịch lịch sử Vũ Như Tô (1941).

2. Nội dung chính

– “Vũ Như Tô” là vở bi kịch lịch sử năm hồi viết về một sự kiện có thật xảy ra ở kinh thành Thăng Long khoảng năm 1516 – 1517, dưới triều Lê Tương Dực. Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài để tạo nên một công trình nghệ thuật, để tiếng thơm cho đời, đó là việc làm đúng đắn tuy nhiên việc xây dựng công trình to lớn, nguy nga này phải dùng công sức và xương máu của nhân dân chỉ để cho vua ăn chơi sa đọa. Nhân dân phản kháng và giết chết Vũ Như Tô cùng cung nữ Đan Thiềm.

– Thông qua bi kịch của Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng đã gửi gắm những quan niệm sâu sắc về nghệ thuật và cuộc đời: Đó là mối quan hệ hữu cơ giữa khát vọng nghệ thuật của người nghệ sĩ và đời sống của nhân dân, vận mệnh của dân tộc.

– Tóm tắt vở kịch Vũ Như Tô:

Vũ Như Tô là một nhà kiến trúc tài giỏi, một nghệ sĩ có chí lớn, tính tình cương trực, trọng nghĩa kinh tài. Lê Tương Dực, một hôn quân bạo chúa, sai Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi ăn chơi với đám cung nữ. Vũ đã từ chối dù bị đe dọa kết tội tử hình. Song Đan Thiềm, một cung nữ tài sắc nhưng đã bị ruồng bỏ, đã khuyên Vũ nên nhận lời xây dựng Cửu Tràng Đài vì đây là cơ hội để Vũ đem tài ra phục vụ đất nước, “Ông cứ xây lấy một tòa đài cao cả. Vua Hồng Thuận và lũ cung nữ kia rồi mất đi, nhưng sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời. Dân ta nghìn thu được hãnh diện…”. Vũ đã nhận lời và dồn hết sức xây Cửu Trùng Đài. Nhưng Cửu Trùng Đài đã làm cho dân chúng thêm cực khổ. Họ đã nổi dậy. Vũ Như Tô bị giết, Cửu Trùng Đài bị thiêu trụi.

3. Ý nghĩa nhan đề

Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài – nhan đề tác phẩm chứa đựng nhiều ẩn ý nhưng cũng là một lời chào vĩnh biệt trực tiếp sự huỷ diệt của đài Cửu Trùng.

– Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài cũng là vĩnh biệt vẻ đẹp cao siêu, lí tưởng mà con người (trong những hoàn cảnh nhất định khó hòng đạt tới. Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài cũng nhằm kết thúc mọi oán thán, hận thù của con người do nó mà trở nên lao khổ hay độc ác.

4. Bố cục đoạn trích

– Đoạn trích gồm có 9 lớp kịch xoay quanh sự kiện quân phản loạn đốt phá Cửu Trùng Đài, bắt giết những người sáng tạo ra nó, chôn họ trong tro tàn Cửu Trùng Đài.

Tổng kết

  • Qua tấn bi kịch của Vũ Như Tô, tác giả đã đặt ra những vấn đề sâu sắc, có ý nghĩa muôn thuở về mối quan hệ giữa nghệ thuật với cuộc sống, giữa lí tưởng nghệ thuật cao siêu, thuần tuý của muôn đời với lợi ích thiết thân và trực tiếp của nhân dân,… . 
  • Đoạn trích thể hiện những đặc sắc về nghệ thuật kịch của Nguyễn Huy Tưởng: ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao; dùng ngôn ngữ, hành động của nhân vật để khắc hoạ tính cách, miêu tả tâm trạng, dẫn dắt và đẩy xung đột kịch đến cao trào.

// Trên đây là nội dung chi tiết bài soạn Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài của Nguyễn Huy Tưởng do Đọc Tài Liệu tổng hợp và biên soạn. Mong rằng nội dung của bài hướng dẫn soạn văn 11 bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài này sẽ giúp các em ôn tập và nắm vững các kiến thức quan trọng của đoạn trích. Chúc các em luôn đạt được những kết quả cao trong học tập.

[ĐỪNG SAO CHÉP] – Bài viết này chúng tôi chia sẻ với mong muốn giúp các bạn tham khảo, góp phần giúp cho bạn có thể để tự soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài một cách tốt nhất. “Trong cách học, phải lấy tự học làm cố” – Chỉ khi bạn TỰ LÀM mới giúp bạn HIỂU HƠN VỀ BÀI HỌC và LUÔN ĐẠT ĐƯỢC KẾT QUẢ CAO.

Tâm Phương (Tổng hợp)

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: kiến thức chung
READ:  Phân tích diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ trong Vợ nhặt