Soạn bài Luyện tập thao tác lập luận so sánh

Hướng dẫn soạn bài Luyện tập thao tác lập luận so sánh, trả lời câu hỏi soạn bài Luyện tập thao tác lập luận so sánh trang 116 sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 11 tập 1.

Trong bài soạn Luyện tập thao tác lập luận so sánh dưới đây, Đọc Tài Liệu sẽ hướng dẫn các em kỹ năng vận dụng thao tác lập luận so sánh để làm sáng tỏ một ý kiến, một quan điểm thông qua các bài tập luyện tập trang 116 – 117 SGK.

Với những hướng dẫn chi tiết trả lời câu hỏi sách giáo khoa Ngữ văn 11 tập 1 dưới đây các em không chỉ soạn bài tốt mà còn nắm vững các kiến thức quan trọng của bài học này cũng như có kĩ năng thực hành sử dụng thao tác so sánh trong làm văn.

    Cùng tham khảo…

Hướng dẫn soạn bài Luyện tập thao tác lập luận so sánh ngắn gọn

    Hướng dẫn trả lời câu hỏi bài tập luyện tập bài Luyện tập thao tác lập luận so sánh ngắn gọn nhất trang 116, 117 SGK Ngữ văn 11 tập 1.

Câu 1 trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Tâm trạng của nhân vật trữ tình khi về thăm quê trong hai bài thơ dưới đây:

Khi đi trẻ, lúc về già

Giọng quê vẫn thể, tóc đà khác bao

Trẻ con nhìn lạ không chào

Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi?

(Hạ Tri Chương – Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê – bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ)

Trở lại An Nhơn, tuổi lớn rồi,

Bạn chơi ngày nhỏ chẳng còn ai

Nền nhà nay dựng cơ quan mới

Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người.

(Chế Lan Viên – Trở lại An Nhơn)

Trả lời:

Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong hai bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê ( Hạ Tri Chương) và bài thơ Trở lại An Nhơn (Chế Lan Viên):

– Điểm giống nhau: Cả hai người đều rời quê hương ra đi lúc còn trẻ và trở về lúc tuổi đã cao.

– Khi trở về về, cả hai đều trở thành “người xa lạ” trên chính nơi mình đã sinh ra.

+ Hạ Tri Chương viết: Hỏi rằng: Khách ở nơi nào lại chơi? Vì không còn ai nhận ra mình cả.

+ Chế Lan Viên viết: Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người, vì quê hương đã biến đổi quá nhiều sau chiến tranh, không còn cảnh cũ, người xưa nữa.

Câu 2 trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Học cũng có ích như trồng cây, mùa xuân cho hoa, mùa thu được quả.

Trả lời:

Học cũng có ích như trồng cây, mùa xuân được hoa, mùa thu được quả. Trong câu văn này, mùa xuân và mùa thu là những hình ảnh ẩn dụ. Mùa xuân, mùa thu ở đây chỉ các giai đoạn khác nhau: ban đầu là lúc đơm hoa, cùng với thời gian sẽ thu hoạch được nhiều quả ngọt. Chuyện học hành cũng vậy, cùng với sự chăm chỉ tích lũy kiến thức chúng ta sẽ dần tiến bộ và rồi sẽ thành công.

Câu 3 trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 1

So sánh ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và ngôn ngữ thơ Bà Huyện Thanh Quan qua hai bài thơ Tự tình (bài I)Chiều hôm nhớ nhà.

Trả lời:

– Tương đồng: Cùng là thể thơ thất ngôn bát cú, cả hai bài đều gieo vần chặt chẽ và đều tuân thủ nghiêm chỉnh luật đối (câu 3, 4 và câu 5, 6).

– Khác biệt: Nhưng hai bài thơ có nhiều điểm khác nhau, nhất là cách dùng từ:

+ Bài thơ của Hồ Xuân Hương dùng nhiều những từ ngữ trong ngôn ngữ hằng ngày

+ Bà Huyện Thanh Quan lại dùng nhiều từ Hán Việt. mang tính ước lệ

– Sự khác nhau nêu trên tạo ra sự khác nhau về phong cách:

+ Bài thơ của Hồ Xuân Hương có phong cách gần gũi với đám đông, tuy có xót xa nhưng vẫn có những nét tinh nghịch.

+ Bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan mang phong cách đài các, trang nhã. Đó là tiếng nói của văn nhân trí thức thượng lưu.

Câu 4 trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Tự chọn đề tài để viết đoạn văn so sánh.

Gợi ý:

“Học thầy không tày học bạn”. Câu tục ngữ trên chính là sự so sánh không cân bằng giữa người thầy và học sinh. Nó không có ý nghĩa hạ thấp giá trị của người thầy mà nó chỉ đề cao vai trò của bạn bè. Trong xã hội vai trò của người thầy đối với nền giáo dục là rất lớn. Sự học tập, tìm hiểu ở thầy là cần thiết. Nhưng chúng ta không chỉ dừng lại ở đó mà hãy biết học hỏi ở nhiều nơi, nhiều chỗ, học hỏi ở mọi phương diện để có thể bồi đắp, tu dưỡng thêm vốn kiến thức của mình.

Hướng dẫn soạn bài Luyện tập thao tác lập luận so sánh chi tiết

    Hướng dẫn trả lời câu hỏi bài tập luyện tập bài Luyện tập thao tác lập luận so sánh trang 116, 117 SGK Ngữ văn 11 tập 1.

Bài 1 trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Tâm trạng của nhân vật trữ tình khi về thăm quê trong hai bài thơ dưới đây:

Khi đi trẻ, lúc về già

Giọng quê vẫn thể, tóc đà khác bao

Trẻ con nhìn lạ không chào

Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi?

(Hạ Tri Chương – Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê – bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ)

Trở lại An Nhơn, tuổi lớn rồi,

Bạn chơi ngày nhỏ chẳng còn ai

Nền nhà nay dựng cơ quan mới

Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người.

(Chế Lan Viên – Trở lại An Nhơn)

Trả lời:

– Điểm giống nhau:

+ Cả hai người đều rời quê hương ra đi lúc còn trẻ và trở về lúc tuổi đã cao.

+ Khi trở về, cả hai đều trở thành “người xa lạ” trên chính nơi mình đã sinh ra.

– Qua thời gian, cảnh vật và con người đều biến đổi. Hai tác giả sống cách nhau hơn một ngàn năm nhưng tâm trạng khi hồi hương vẫn có nét tương đồng.

+ Hạ Tri Chương viết: “Hỏi rằng: Khách à chốn nào lại chơi?”, vì không còn ai nhận ra mình là người cùng quê cả.

Nghệ thuật đối: khi / lúc, đi trẻ / về già, chỉ có sáu chữ mà đã gói trọn vòng quay của một đời người. Dấu phẩy ngắt hai vế của câu thơ như là sự đối lập rạch ròi giữa hai nửa của cuộc đời người trẻ già. Dấu hiệu của năm tháng, sự phôi pha của đời người được thể hiện qua sự phôi phai của màu tóc “tóc đà khác bao“.

Câu hỏi tu từ “Hỏi rằng khách ở chốn nào lại chơi?”. Lời thơ ướm hỏi nhưng lại là sự khẳng định mạnh mẽ về những đổi thay của con người. “Khách” một từ phiếm chỉ, vừa gần vừa xa, quen mà lạ, cụ thể mà xa xôi,… như một sự tự trách trong tâm hồn. Ngược lại, trong tâm cảm nhà thơ quê hương vẫn như ngày nào.

“Giọng quê” đó là cả hồn quê, là sự mộc mạc dân dã, là vẻ đẹp chân chất của con người vẫn không bao giờ thay đổi “vẫn thế”.

Thể thơ 6 – 8 góp phần thể hiện cái âm hưởng khúc nhạc lòng rười rượi, cái ngậm ngùi về tình quê thắm thiết của một người sống xa quê lâu ngày, trong khoảnh khắc vừa mới đặt chân trở về quê cũ.

+ Chế Lan Viên viết: Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người, vì quê hương đã biến đổi quá nhiều sau chiến tranh, không còn cảnh cũ, người xưa nữa.

Cũng là cảm nhận về sự thay đổi nhưng ở đây là sự thay đổi mạnh mẽ của quê hương xứ sở. Con người nơi quê, bạn bè nhà thơ mỗi đứa một phương:

Bạn chơi ngày nhỏ chẳng còn ai

Cảnh vật quê hương cũng đã đổi thay:

Nền nhà nay dựng cơ quan mới,

Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người.

=> Cảm xúc chung: ngậm ngùi, tiếc nuối, man mác buồn. Giọng điệu đầy chất hóm hỉnh, thể thơ bảy chữ thể hiện cảm xúc tươi tắn, rắn rỏi. Bài thơ thể hiện cái nhìn đầy xúc động niềm tự hào về quê hương xứ sở của người con sau bao năm xa đất mẹ chôn rau.

Bài 2 trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Học cũng có ích như trồng cây, mùa xuân cho hoa, mùa thu được quả.

Trả lời:

Học cũng có ích như trồng cây, mùa xuân được hoa, mùa thu được quả”.

– Các đối tượng so sánh và được so sánh: việc học và việc trồng cây.

– Cách thức so sánh: Việc học như mùa xuân, mùa thu, mùa xuân được hoa, mùa thu được quả. Ban đầu là lúc đơm hoa, cùng với thời gian sẽ thu hoạch được nhiều quả ngọt.

– Các mùa ở đây ẩn dụ cho các giai đoạn học tập: Ban đầu hiểu biết ít, càng ngày càng hiểu biết nhiều hơn. Cùng với thời gian tích luỹ kiến thức, người học rồi sẽ tiến bộ dần và rồi sẽ thành công.

– Ý nghĩa của việc so sánh: nhắc nhở con người kiên nhẫn trên con đường học tập. Không phải một sớm một chiều mà đã có thể trở thành giỏi giang.

=> Đây là một câu so sánh để ta thêm kiên nhẫn trên con đường học tập.

Bài 3 trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 1

So sánh ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và ngôn ngữ thơ Bà Huyện Thanh Quan qua hai bài thơ Tự tình (bài I)Chiều hôm nhớ nhà.

Trả lời:

* Điểm tương đồng

Hai bài thơ có nhiều nét tương đồng: Cùng là thể thơ thất ngôn bát cú, cả hai bài đều gieo vần chặt chẽ và đều tuân thủ nghiêm chỉnh luật đối (câu 3, 4 và câu 5, 6).

* Điểm khác biệt

Hai bài thơ có nhiều điểm khác nhau, nhất là ở cách dùng từ:

+ Bài thơ của Hồ Xuân Hương dùng nhiều những từ ngữ trong ngôn ngữ hằng ngày (tiếng gà văng vẳng, mõ thảm, chuông sầu, những tiếng rền rĩ, khắp mọi chòm,…) kể cả những chữ rất khó dùng (cớ sao om, duyên mõm mòm, già tom). Trong bài chỉ có một câu nhiều từ Hán Việt: Tài tử vãn nhân ai đó tá?

+ Trong khi đó bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan lại dùng nhiều từ Hán Việt: Hoàng hôn, ngư ông, viễn phố, mục tử, cô thôn, lữ thứ, hàn ôn,… Nhiều từ ngữ mang tính ước lệ, được dùng nhiều trong thơ cổ như ngàn mai, dặm liễu.

=> Sự khác nhau nêu trên tạo ra sự khác nhau về phong cách:

+ Bài thơ của Hồ Xuân Hương có phong cách gần gũi với đám đông, tuy có xót xa nhưng vẫn có những nét tinh nghịch.

+ Bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan mang phong cách đài các, trang nhã. Đó là tiếng nói của văn nhân trí thức thượng lưu.

Bài 4 trang 116 SGK Ngữ văn 11 tập 1

Tự chọn đề tài để viết đoạn văn so sánh.

Gợi ý:

Học sinh tự do lựa chọn câu danh ngôn, tục ngữ, thành ngữ có nội dung so sánh để viết đoạn văn nghị luận có vận dụng thao tác lập luận so sánh. Có thể tham khảo một số bài làm mẫu sau đây:

Mẫu 1:

Lời chào cao hơn mâm cỗ

Hàm ý câu chào hỏi rất quan trọng, rất tình nghĩa, còn quý hơn cả việc mời nhau đến ăn uống tiệc tùng. “Lời chào cao hơn mâm cỗ” ý muốn nói đến phép lễ nghĩa hơn cái ăn. Sâu hơn là nhân cách của con người cao hơn “vật chất”. Mâm cỗ có đầy, có sang trọng mới thể hiện được sự no đủ và hiếu khách của chủ nhà. Lời chào có nồng nhiệt, thân thiện mới chứng tỏ phẩm chất một ngưới có phép tắc, lễ nghĩa với một nền giáo dục tốt, và đậm chất văn hóa của dân tộc. Mâm cỗ là sự no đủ về vật chất, lời chào thể hiện cho sự thân thiện giữa người với người. Lời chào là “phương tiện” tình cảm mang hơi thở của xã hội.

Mẫu 2:

“Cho bạc cho tiền không bằng cho nghiên cho bút”

Câu tục ngữ trên nói về tầm quan trọng của chữ nghĩa, nó tạo nên những cái đặc biệt đối tượng so sánh ở đây là bạc, là tiền được so sánh với nghiên, với bút. Bạc, tiền là những thứ quý giá, có giá trị lớn được so sánh với nghiên, với bút – những thứ gợi cho con người dễ dàng hình dung được đó là tri thức, là học vấn. Bạc, tiền là những thứ quý giá về vật chất và cũng có thể kiếm được, còn nghiên, bút là những thứ thiên về tinh thần. Câu tục ngữ này, với hàm ý đề cao tầm quan trọng của việc học, của chữ nghĩa của việc xây dựng nên nhân cách, vốn hiểu biết của con người. Xã hội muốn phát triển được cần phải có những con người tài giỏi, con người có vốn hiểu biết. Chính vì thế nuôi con ăn học nên người sẽ tốt hơn là cho con cái tiền bạc, bởi vì miệng ăn thì núi lở có cho bao nhiêu bạc tiền thì cũng không đủ. Câu tục ngữ này càng đúng hơn với nền văn minh trí tuệ  ngày nay.

Mẫu 3:

Dân gian ta có câu: Quý như vàng, ý nói vàng là thứ quý giá. Chẳng vậy mà bao đời nay nhiều kẻ cứ chạy miết theo đồng tiền, thoi vàng: lao vào buôn bán thậm chí bất chấp pháp luật, hăm hở tìm vàng nhiều khi bỏ mặc mạng sống,… Có vàng quả quý thực vì có được nó con người sẽ trở nên giàu có sung sướng: có tiền mua tiên cũng được kia mà! Vàng đã quý nhưng có thứ còn quý giá hơn, đó là chữ nghĩa, tri thức.

Cha ông ta từng đúc kết: Một kho vàng không bằng một nang chữ. Tại sao vậy? Có chữ nghĩa con người có khả năng làm việc tốt hơn mọi người, nhờ vậy sẽ thành đạt hơn, họ cũng sẽ có được vàng để sung túc, đủ đầy. Nhưng mặt khác, một kho vàng là có hạn, hết một kho vàng chỉ còn kho rỗng. Nhưng có chữ nghĩa thì vĩnh viễn không bao giờ lo đói khổ vì chữ còn, tiền đồ còn, cơm áo còn. Những vị Trạng nguyên, Thám hoa,… nhờ chữ nghĩa mà đời đời vinh hiển; bọn phú ông giàu có ngu dốt hay bị chơi khăm, chơi xỏ chẳng mấy chốc mà khuynh gia bại sản. Không chỉ vậy, nang chữ còn mang đến cho con người thứ mà kho vàng không bao giờ làm được, đó là sự yêu mến, kính nể của xã hội. Mọi người yêu quý, tôn trọng người có học, người hay chữ; ít ai thật lòng thật bụng yêu mến, trân trọng kẻ chỉ có tiền (có chăng chỉ là thái độ bợ đỡ, xu nịnh mà thôi). “Một kho vàng không bằng một nang chữ”, tư tưởng ấy đã góp phần xây đắp nên những tâm hồn Việt Nam trọng chữ nghĩa, hiếu học tôn sư trọng đạo mà khinh bạc vàng, căm ghét bọn tham quan, cường hào, ác bá.

Kiến thức lí thuyết cơ bản

Trước khi làm các bài tập, các em cần ôn lại một số kiến thức cơ bản về thao tác lập luận so sánh:

– So sánh là đối chiếu 2 sự vật, hiện tượng, để thấy được sự giống và khác nhau giữa 2 sự vật, hiện tượng ấy.

– Có 2 kiểu so sánh: Tương đồng (chỉ ra những nét giống nhau) và tương phản (chỉ ra những nét khác nhau).

– Mục đích của so sánh là làm sáng rõ đối tượng đang nghiên cứu trong tương quan với đối tượng khác.

– Yêu cầu của so sánh: Khi so sánh phải đặt các đối tượng vào cùng một bình diện, đánh giá trên cùng một tiêu chí mới thấy được sự giống và khác nhau giữa chúng, đồng thời phải nêu rõ ý kiến của người viết.

– Cách thức so sánh:

+ Có 2 cách so sánh: so sánh tương đồng và so sánh tương phản.

+ Khi so sánh phải đặt các đối tượng vào cùng một bình diện, đánh giá trên cùng một tiêu chí mới thấy được sự giống nhau và khác nhau giữa chúng, đồng thời phải nêu rõ ý kiến quan điểm của người nói (người viết).

Chi tiết xem thêm tại: Hướng dẫn soạn bài Thao tác lập luận so sánh ôn tập lại nội dung kiến thức lí thuyết về thao tác lập luận so sánh.

—TỔNG KẾT—

  • So sánh là một trong những thao tác lập luận không thể thiếu trong văn nghị luận.
  • Vận dụng thao tác so sánh hợp lý sẽ giúp bài viết vừa có chiều sâu vừa có chiều rộng tạo nên sức hấp dẫn, thuyết phục cho bài văn.

Bài soạn tiếp theoLuyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận phân tích và so sánh

// Trên đây là nội dung chi tiết bài soạn bài Luyện tập thao tác lập luận so sánh của Ngô Thì Nhậm do Đọc Tài Liệu biên soạn gửi tới các em. Mong rằng nội dung của bài hướng dẫn soạn văn 11 bài Luyện tập thao tác lập luận so sánh này sẽ giúp các em ôn tập và nắm vững các kiến thức quan trọng của bài học. Chúc các em luôn đạt được những kết quả cao trong học tập.

[ĐỪNG SAO CHÉP] – Bài viết này chúng tôi chia sẻ với mong muốn giúp các bạn tham khảo, góp phần giúp cho bạn có thể tự soạn bài Luyện tập thao tác lập luận so sánh một cách tốt nhất. “Trong cách học, phải lấy tự học làm cố” – Chỉ khi bạn TỰ LÀM mới giúp bạn HIỂU HƠN VỀ BÀI HỌC và LUÔN ĐẠT ĐƯỢC KẾT QUẢ CAO.

Tâm Phương (Tổng hợp)

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: kiến thức chung
READ:  Soạn bài Mùa lá rụng trong vườn