Soạn bài Giao tiếp, văn bản và phương thức biểu đạt

Soạn bài Giao tiếp văn bản và phương thức biểu đạt lớp 6, hướng dẫn chi tiết soạn văn 6 bài Giao tiếp, văn bản và phương thức biểu đạt chi tiết

Soạn bài Giao tiếp, văn bản và phương thức biểu đạt lớp 6 được Đọc tài liệu biên soạn với mong muốn giúp các em ôn tập kĩ hơn kiến thức cần ghi nhớ trong chương trình Ngữ văn 6 tập 1.

Soạn bài Giao tiếp văn bản và phương thức biểu đạt chi tiết

I. Tìm hiểu chung về văn bản và phương thức biểu đạt

Bài tập trang 16 – sgk 

1. Văn bản và mục đích giao tiếp

a) Trong đời sống, khi có một tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng (ví dụ: muốn khuyên nhủ người khác một điều gì, có lòng yêu mến bạn, muốn tham gia một hoạt động do nhà trường tổ chức,…) mà cần biểu đạt cho mọi người hay ai đó biết, thì em lam thế nào ?

b) Khi muốn biểu đạt tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng ấy một cách đầy đủ, trọn vẹn cho người khác hiểu, thì em phải làm như thế nào ?

c) Đọc câu ca dao sau và trả lời câu hỏi:

Ai ơi giữ chí cho bền

Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai.

Em hãy nhận xét: Câu ca dao này được sáng tác ra để làm gì ? Nó muốn nói lên vấn đề (chủ đề) gì ? Hai câu 6 và 8 liên kết với nhau như thế nào (về luật thơ và về ý) ? Như thế đã biểu đạt trọn vẹn một ý chưa ? Theo em, câu ca dao đó đã có thể coi là một văn bản chưa ?

d)  Lời phát biểu của thầy (cô) hiệu trưởng trong lễ khai giảng năm học có phải là một văn bản không ? Vì sao ?

đ) Bức thư em viết cho bạn bè hay người thân có phải là một văn bản không ?

e) Những đơn xin học, bài thơ, truyện cổ tích (kể miệng hay được chép lại), câu đối, thiếp mời dự đám cưới, … có phải đều là văn bản không ? Hãy kể thêm những văn bản mà em biết.

Trả lời

a) Khi cần biểu đạt một điều gì đó (một tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng,…) cho người khác biết thì ta dùng ngôn ngữ nói hoặc viết (có thể một câu hoặc nhiều câu).

b) Một câu thường mang một nội dung nào đó tương đối trọn vẹn. Nhưng để biểu đạt những nội dung thực sự đầy đủ, trọn vẹn một cách rõ ràng thì một câu nhiều khi không đủ.

Khi đó em phải dùng văn bản để biểu đạt thì mới đảm bảo cho người khác hiểu được đầy đủ, trọn vẹn, rõ ràng tư tưởng, tình cảm của mình.

READ:  Phân tích đoạn trích Chị em Thúy Kiều (Nguyễn Du)

c) Câu ca dao được sáng tác ra để khuyên nhủ con người cần giữ được ý chí của mình, không nên dao động trong bất kì hoàn cảnh nào.

– Chủ đề của văn bản là giữ chí cho bền.

– Chủ đề này được nêu ra ở câu 6.

– Câu 8 nói rõ thêm, giữ chí cho bền nghĩa là gì, là không dao động khi người khác thay đổi chí hướng”.

Chí hướng đây là “chí hướng, hoài bão, lí tưởng”, vần là yếu tố liên kết hai câu (bền – nền). Mạch lạc là quan hệ giải thích của câu sau đôi với câu trước, làm rõ ý cho câu trước.

d) Lời thầy (cô) hiệu trưởng phát biểu trong lễ khai giảng năm học là một văn bản (nói) vì:

– Nó gồm một chuỗi lời

– Có chủ đề: Thường là nêu thành tích, hạn chế trong năm học vừa qua, đề ra và kêu gọi thực hiện tốt nhiệm vụ của năm học mới.

– Các bộ phận của bài phát biểu liên kết chặt chẽ với nhau theo chủ đề và cách diễn đạt.

đ) Bức thư cũng là một dạng văn bản viết. Nó có chủ đề và thường là thông báo tình hình của người viết, hỏi han tình hình của người nhận;

– Vì vậy, viết thư cũng có nghĩa là tạo lập một văn bản.

e) Những đơn xin học, bài thơ, truyện cổ tích (kể miệng hay được chép lại), câu đối, thiếp mời dự đám cưới, … có phải đều là văn bản.

Ngoài ra, bài tập làm văn (viết hay nói), thư cảm ơn, một bài nói chuyện chuyên đề,… cũng là văn bản.

2. Kiểu văn bản và phương thức biểu đạt của văn bản

6 kiểu văn bản tương ứng với 6 phương thức biểu đạt:

Bài tập: Với các tình huống giao tiếp sau, hãy lựa chọn kiểu văn bản với phương thức biểu đạt tương ứng:

– Hai đội bóng đá muốn xin phép sử dụng sân vận động của thành phố (Hành chính – công vụ)

– Tường thuật diễn biến trận đấu bóng đá (Tự sự )

– Tả lại những pha bóng đẹp trong trận đấu (Miêu tả)

– Giới thiệu quá trình thành lập và thành tích thi đấu của hai đội (Thuyết minh)

– Bày tỏ lòng yêu mến môn bóng đá (Biểu cảm)

– Bác bỏ ý kiến cho rằng bóng đá là môn thể thao tốn kém, làm ảnh hưởng không tốt tới việc học tập và công tác của nhiều người. (Nghị luận)

Trả lời

–   Hai đội bóng đá muốn xin phép sử dụng sân vận động của thành phố: Văn bản hành chính – công vụ: Đơn từ.

–   Tường thuật diễn biến trận đấu bóng đá: Văn bản tự sự.

–  Tả lại những pha bóng đẹp trong trận đấu: Văn bản miêu tả.

READ:  Đề cương ôn tập học kì 2 Ngữ văn lớp 7 phần Tiếng Việt

–   Giới thiệu quá trình thành lập và thành tích thi đấu của hai đội: Văn bản thuyết minh.

–   Bày tỏ lòng yêu mến bóng đá: Văn bản biểu cảm.

–  Bác bỏ ý kiến cho rằng bóng đá là môn thể thao tốn kém, làm ảnh hưởng không tốt đến việc học tập và công tác của nhiều người: Văn bản nghị luận.

II.Luyện tập

Bài 1 – Trang 17 sgk

Các đoạn văn, thơ dưới đây thuộc phương thức biểu đạt nào?

a) Một hôm, mẹ Cám đưa cho Tấm và Cám mỗi đứa một cái giỏ, sai đi bắt tôm, bắt tép và hứa, đứa nào bắt được đầy giỏ sẽ thưởng cho một cái yếm đỏ. Tấm vốn chăm chỉ, lại sợ dì mắng nên mải miết suốt buổi bắt đầy một giỏ cả tôm lẫn tép. Còn Cám quen được nuông chiều, chỉ ham chơi nên mãi đến chiều chẳng bắt được gì. Thấy Tấm bắt được đầy giỏ, Cám bảo chị:

Chị Tấm ơi, chị Tấm!

Đầu chị lấm

Chị hụp cho sâu

Kẻo về dì mắng.

Tấm tưởng thật, hụp xuống thì Cám trút hết giỏ tôm tép của Tấm vào giỏ mình, rồi chạy về nhà trước.

(Tấm Cám)

b) Trăng đang lên. Mặt sông lấp loáng ánh vàng. Núi Trùm Cát đứng sừng sững bên bờ sông thành một khối tím thẫm uy nghi, trầm mặc. Dưới ánh trăng, dòng sông sáng rực lên, những con sóng nhỏ lăn tăn gợn đều mơn man vỗ nhẹ vào hai bên bờ cát.

(Khuất Quang Thụy, Trong cơn gió lốc)

c) Muốn xây dựng một đất nước giàu mạnh thì phải có nhiều người tài giỏi. Muốn có nhiều người tài giỏi thì học sinh phải ra sức học tập văn hóa và rèn luyện thân thể, bởi vì chỉ có học tập và rèn luyện thì các em mới có thể trở thành những người tài giỏi trong tương lai.

(Trích Tài liệu hướng dẫn đội viên)

d) Trúc xinh trúc mọc đầu đình

Em xinh em đứng một mình cũng xinh.

(Ca dao)

đ) Nếu ta đẩy quả địa cầu quay trục theo hướng từ tay trái sang tay phải mà chúng ta gọi là hướng từ tây sang đông thì hầu hết các điểm trên bề mặt quả địa cầu đều chuyển động, đều thay đổi vị trí và vẽ thành những đường tròn.

(Theo Địa lí 6)

Trả lời

Mục đích giao tiếp của các văn bản:

a. Kể lại chuyện Tấm bị Cám lừa lấy hết tôm tép. (Tự sự)

b. Miêu tả lại cảnh đêm trăng. (Miêu tả)

c. Kêu gọi, thuyết phục học sinh cố gắng học tập và rèn luyện; (Nghị luận)

d. Bày tỏ tâm tình; (Biểu cảm)

đ. Giới thiệu về sự quay của Trái Đất (Thuyết minh)

Bài 2 – Trang 18 sgk

Truyền thuyết Con Rồng, cháu Tiên thuộc kiểu văn bản nào? Và sao em biết như vậy?

Trả lời

– Truyền thuyết “Con Rồng, cháu Tiên” thuộc văn bản tự sự.

READ:  Thuyết minh về con mèo lớp 8

– Vì: Mục đích giao tiếp của truyện là trình bày diễn biến sự việc.

Soạn bài Giao tiếp, văn bản và phương thức biểu đạt ngắn nhất

Bài tập trang 16 SGK Ngữ văn 6 tập 1

– Hai đội bóng đá muốn xin phép sử dụng sân vận động của thành phố: Văn bản hành chính – công vụ: Đơn từ.

– Tường thuật diễn biến trận đấu bóng đá: Văn bản tự sự.

– Tả lại những pha bóng đẹp trong trận đấu: Văn bản miêu tả.

– Giới thiệu quá trình thành lập và thành tích thi đấu của hai đội: Văn bản thuyết minh.

– Bày tỏ lòng yêu mến bóng đá: Văn bản biểu cảm.

– Bác bỏ ý kiến cho rằng bóng đá là môn thể thao tốn kém, làm ảnh hưởng không tốt đến việc học tập và công tác của nhiều người: Văn bản nghị luận.

Bài 1 trang 17 SGK Ngữ văn 6 tập 1

a) Phương thức tự sự – kể chuyện: vì có người, có việc, diễn biến của sự việc.

b) Phương thức miêu tả: tả cảnh thiên nhiên đêm trăng trên sông.

c) Phương thức nghị luận: bàn luận về vấn đề làm cho đất nước giàu mạnh.

d) Phương thức biểu cảm: thể hiện sự tự tin và xinh đẹp của cô gái.

đ) Phương thức thuyết minh: giới thiệu hướng quay của địa cầu.

Bài 2 trang 18 SGK Ngữ văn 6 tập 1

– Truyền thuyết “Con Rồng, cháu Tiên” thuộc văn bản tự sự.

– Vì: Mục đích giao tiếp của truyện là trình bày diễn biến sự việc, kể người, có lời nói, hành động theo một diễn biến nhất định, đi đến một kết quả cuối cùng thể hiện một ý nghĩa (giải thích, suy tôn nguồn gốc của người Việt).

Nội dung cần ghi nhớ

  • Giao tiếp là hoạt động truyền đạt, tiếp nhận tư tưởng, tình cảm bằng phương tiện ngôn từ.
  • Văn bản là chuỗi lời nói miệng hay bài viết có chủ đề thống nhất, có liên kết, mạch lạc, vận dụng phương thức biểu đạt phù hợp để thực hiện mục đích giao tiếp.
  • Có 6 văn bản thường gặp với các phương thức biểu đạt tương ứng: tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, hành chính – công vụ.

Bài soạn Giao tiếp văn bản và phương thức biểu đạt lớp 6 giúp các em học sinh dễ dàng nắm được định nghĩa giao tiếp, văn bản và phương thức biểu đạt văn bản. Từ đó các em có thể trả lời đầy đủ và chi tiết các câu hỏi trong sách giáo khoa, phân biệt được các kiểu văn bản như tự sự, miêu tả, biểu cảm, tự luận,… Cùng tham khảo thêm phần soạn văn 6 tập 1 để chuẩn bị các bài học tiếp theo em nhé!

Xem thêm:

Bài trước: Từ và cấu tạo của từ Tiếng Việt

Bài sau: Soạn bài Thánh Gióng

Hiền Phạm (Tổng hợp)

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: kiến thức chung