Soạn bài Chơi chữ | Soạn bài Chơi chữ ngắn nhất

Soạn bài Chơi chữ lớp 7 được biên soạn và tổng hợp giúp em nắm vững nội dung kiến thức về chơi chữ, trả lời câu hỏi bài tập trang 163 SGK Ngữ văn 7 tập 1.

Bạn đang cần tìm tài liệu soạn bài Chơi chữ lớp 7? Học Tốt giới thiệu nội dung chi tiết bài soạn Chơi chữ giúp em nắm được khái niệm chơi chữ, cảm thụ được cái đẹp cái hay của chơi chữ và áp dụng vào giải bài tập SGK.

Với những hướng dẫn chi tiết trả lời câu hỏi sách giáo khoa dưới đây các em không chỉ soạn bài tốt mà còn nắm vững các kiến thức quan trọng của bài học này.

Cùng tham khảo…

Kiến thức cơ bản

– Khái niệm: Chơi chữ là lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước,… làm câu văn hấp dẫn và thú vị.

Các lối chơi chữ thường gặp là:

+ Dùng từ ngữ đồng âm;

+ Dùng lối nói trại âm (gần âm);

+ Dùng cách điệp âm;

+ Dùng lối nói lái ;

+ Dùng từ ngữ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.

– Chơi chữ được sử dụng trong cuộc sống thường ngày, trong văn thơ, đặc biệt là trong thơ văn trào phúng, trong câu đối, câu đố,…

Hướng dẫn soạn bài Chơi chữ chi tiết nhất

I. Thế nào là chơi chữ?

Đọc bài ca dao sau đây và trả lời câu hỏi.

Bà già đi chợ Cầu Đông,

Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?

Thầy bói xem quẻ nói rằng:

Lợi thì có lợi nhưng răng không còn.

1. Em có nhận xét gì về nghĩa của các từ lợi trong bài ca dao này?

2.

Việc sử dụng từ lợi ở câu cuối của bài ca dao là dựa trên hiện tương gì của từ ngữ.

3. Việc sử dụng từ lợi như trên có tác dụng gì?

Trả lời:

1.

– Từ lợi mà bà già dùng (lợi chăng) nghĩa là lợi ích, thuận lợi.

– Từ lợi trong câu nói của thầy bói nghĩa là phần thịt bao quanh chân răng.

2. Việc sử dụng từ lợi ở câu cuối của bài ca dao dựa vào hiện tượng đồng âm khác nghĩa của từ ngữ

READ:  Dàn ý cảm nhận về bài thơ Sang thu - Hữu Thỉnh

3. Cách vận dụng như thế gây cảm giác bất ngờ thú vị. Câu trả lời của thầy bói tuy đượm chút hài hước nhưng không cay độc.

II. Các lối chơi chữ

Ngoài các lối chơi chữ như ở mục I, còn những lối chơi chữ khác. Em hãy chỉ rõ lối chơi chữ trong các câu dưới đây.

(1)

Sánh với Na-va “ranh tướng” Pháp

Tiếng tăm nồng nặc ở Đông Dương.

(Tú Mỡ)

(2)

Mênh mông muôn mẫu một màu mưa

Mỏi mắt miên man mãi mịt mờ

(Tú Mỡ)

(3)

Con cá đối bỏ trong cối đá,

Con mèo cái nằm trên mái kèo,

Trách cha mẹ em nghèo, anh nỡ phụ duyên em.

(Ca dao)

(4)

Ngọt thơm sau lớp vỏ gai,

Quả ngon lớn mãi cho ai đẹp lòng.

Mời cô mời bác ăn cùng,

Sầu riêng mà hóa vui chung trăm nhà.

(Phạm Hổ)

Trả lời:

(1) Dựa vào hiện tượng gần âm: ranh tướng gần với danh tướng nhưng nghĩa hoàn toàn khác nhau. Danh tướng và vị tướng giỏi được lưu danh; còn ranh tướng là kẻ ranh ma – ý mỉa mai – chế giễu.

(2) Mượn cách nói điệp âm: hai câu thơ điệp âm “m” tới 14 lần ⟹ Diễn tả sự mịt mờ của không gian đầy mưa.

(3) Nói lái: Cá đối nói lái thành cối đá – Mèo cái nói lái thành mái kèo ⟹ nhằm diễn tả sự trái khoáy, sự hẩm hiu của duyên phận.

(4) Dựa vào hiện tượng trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.

+ Sầu riêng – danh từ – chỉ một loại trái cây ở Nam Bộ

+ Sầu riêng – tính từ – chỉ sự phiền muộn riêng tư của con người.

III. Soạn bài Chơi chữ phần Luyện tập

1 – Trang 165 SGK

Đọc bài thơ dưới đây và cho biết tác giả đã dùng những từ ngữ nào để chơi chữ?

Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà,

Rắn đầu biếng học chẳng ai tha.

Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ,

Nay thét mai gầm rát cổ cha.

Ráo mép chỉ quen tuồng nói dối,

Lằn lưng cam chịu dấu roi tra,

Từ nay Trâu Lỗ chăm nghề học,

Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.

(Lê Quý Đôn)

Trả lời:

– Liu điu, hổ lửa, mai gầm, ráo, lằn, lưng, hổ mang… là tên các loài rắn.

– Lối chơi chữ thứ hai dùng từ ngữ đồng âm:

-> liu điu: tên một loài rắn nhỏ (danh từ); cũng có nghĩa là nhẹ, chậm yếu (tính từ)

READ:  Thuyết minh về con trâu bằng phương pháp đối thoại

-> Rắn: chỉ chung các loại rắn (danh từ); chỉ tính chất cứng, khó tiếp thu (tính từ): cứng rắn, cứng đầu.

2 – Trang 165 SGK

Mỗi câu sau đây có những tiếng nào chỉ các sự vật gần gũi nhau? Cách nói này có phải là chơi chữ không?

– Trời mưa đất thịt trơn như mỡ, dò đến hàng nem chả muốn ăn.

– Bà đồ Nứa, đi võng đòn tre, đến khóm trúc, thở dài hí hóp.

Trả lời:

Câu 1: thịt, mỡ, giò, nem, chả.

Câu 2: nứa tre, trúc, hóp.

Cách nói này cũng là một lối chơi chữ.

3 – Trang 166 SGK

Sưu tầm một số cách chơi chữ trong sách báo.

Trả lời:

Thay đổi trật tự các chữ (hay nói ngược):

Vợ cả, vợ hai, (hai vợ) cả hai đều là vợ cả.

Thầy tu, thầy chùa, chùa thầy cứ việc thầy tu.

Câu đối của tri huyện Lê Kim Thằng và Xiển Bột:

Học trò là học trò con, tóc đỏ như son là con học trò.

Tri huyện là tri huyện Thằng, ăn nói lằng nhằng là thằng tri huyện.

4* – Trang 166 SGK

Năm 1946, bà Hằng Phương biếu Bác Hồ một gói cam, Bác Hồ đã làm một bài thơ tỏ lòng cảm ơn như sau:

Cảm ơn bà biếu gói cam,

Nhận thì không đúng, từ làm sao đây?

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,

Phải chăng khổ tận đến ngày cam lai?

Trong bài thơ này, Bác Hồ đã dùng lối chơi chữ như thế nào?

Trả lời:

Trong bài thơ này, Bác Hồ đã chơi chữ bằng các từ đồng âm: cam. Thành ngữ Hán việt: khổ tận cam lai (khổ: đắng, tận; hết, cam: ngọt, lai: đến)

Nghĩa bóng của thành ngữ này là hết khổ sở đến lúc sung sướng. “Cam” trong “cam lai” và cam trong gói “cam” là đồng âm.

Soạn bài Chơi chữ ngắn nhất

Đọc – hiểu

I. Thế nào là chơi chữ

Câu 1

– Từ lợi mà bà già dùng (lợi chăng) nghĩa là lợi ích, thuận lợi.

– Từ lợi trong câu nói của thầy bói nghĩa là phần thịt bao quanh chân răng.

Câu 2

Việc sử dụng từ lợi ở câu cuối của bài ca dao là hiện tượng đồng âm khác nghĩa.

Câu 3

Tác dụng: Thầy bói nhắc khéo “bà già”: bà đã già quá rồi (răng không còn) thì lấy chồng làm gì nữa ⇒ sự bất ngờ, thú vị, dí dỏm.

Các lối chơi chữ

(1) – “ranh tướng” → trại âm (gần âm): “ranh tướng” (kẻ ranh ma) phát âm gần với “danh tướng” (vị tướng giỏi).

READ:  Soạn bài Câu ghép (tiếp theo) ngắn gọn nhất

(2) – điệp âm: các tiếng trong hai câu đều có âm “m” đứng đầu diễn tả sự mịt mờ của không gian đầy mưa.

(3) – nói lái: cá đối → cối đá, mèo cái → mái kèo ⇒ diễn tả sự trái khoáy, sự hẩm hiu của duyên phận.

(4) Dựa vào hiện tượng trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.

– Sầu riêng – danh từ – một loại trái cây ở Nam Bộ

– Sầu riêng – tính từ – phiền muộn riêng tư của con người.

Luyện tập

Câu 1: Lối chơi chữ :

– Dùng từ gần nghĩa: tất cả các từ liu điu, rắn, thẹn đèn, hổ lửa, mai gầm, ráo, lằn, Trâu Lỗ, hổ mang đều có ý nghĩa chỉ các loại rắn.

– Dùng từ đồng âm:

+ liu điu: tên một loài rắn nhỏ (danh từ); cũng có nghĩa là nhẹ, chậm yếu (tính từ)

+ Rắn: chỉ chung các loại rắn (danh từ); chỉ tính chất cứng, khó tiếp thu (tính từ): cứng rắn, cứng đầu.

Câu 2

– Trời mưa đất thịt trơn như mỡ, dò đến hàng nem chả muốn ăn.

+ Những tiếng chỉ sự vật gần gũi : thịt, mỡ, dò, nem, chả ⇒ thức ăn từ thịt.

+ Dùng lối nói chơi chữ thể hiện sự đánh tráo khái niệm dí dỏm.

>>> Đọc thêm:

Đọc thêm:

Một hôm Trạng Quỳnh dâng lên chúa Trịnh một lọ thức ăn, bên ngoài có ghi hai chữ đại phong. Chúa không hiểu là món gì, hỏi Quỳnh, Quỳnh trả lời:

– Bẩm, đại phong là gió to, gió to thì đổ chùa, đổ chùa thì tượng lo, tượng lolọ tương.

(Theo Lê Trung Hoa – Hồ Lê, Thú chơi chữ)

-/-

// Trên đây là nội dung chi tiết bài soạn văn Chơi chữ do Học Tốt biên soạn gửi tới các em. Mong rằng nội dung của bài hướng dẫn soạn văn 7 bài Chơi chữ này sẽ giúp các em ôn tập và nắm vững các kiến thức quan trọng của bài học. Chúc các em luôn đạt được những kết quả cao trong học tập.

[ĐỪNG SAO CHÉP] – Bài viết này chúng tôi chia sẻ với mong muốn giúp các bạn tham khảo, góp phần giúp cho bạn có thể để tự soạn bài Chơi chữ một cách tốt nhất. “Trong cách học, phải lấy tự học làm cố” – Chỉ khi bạn TỰ LÀM mới giúp bạn HIỂU HƠN VỀ BÀI HỌC và LUÔN ĐẠT ĐƯỢC KẾT QUẢ CAO.

Tâm Phương (Tổng hợp)

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: kiến thức chung