Phân tích Chí khí anh hùng | Phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng lớp 10

Hướng dẫn làm văn phân tích Chí khí anh hùng, tuyển chọn một số bài văn mẫu lớp 10 hay phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Tài liệu hướng dẫn phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng (Nguyễn Du) do Đọc Tài Liệu biên soạn gồm những gợi ý chi tiết giúp em phân tích đề, lập dàn ý và sơ đồ tư duy. Cùng với những bài văn tham khảo hay được tuyển chọn dưới đây, hi vọng sẽ giúp các em có một vốn từ ngữ phong phú hơn phục vụ cho việc viết bài.

I. Hướng dẫn phân tích Chí khí anh hùng (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Đề bài: Phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.

1. Phân tích yêu cầu đề bài

– Yêu cầu đề bài: phân tích nội dung đoạn trích Chí khí anh hùng.

– Phạm vi tư liệu, dẫn chứng: từ ngữ, chi tiết tiêu biểu trong đoạn trích Chí khí anh hùng.

– Phương pháp lập luận chính: Phân tích, chứng minh.

2. Luận điểm của bài Chí khí anh hùng

Luận điểm 1: Khát vọng lên đường của người anh hùng Từ Hải.

+ Hoàn cảnh của Kiều và Từ Hải lúc chia tay

+ Tính cách và chí khí anh hùng của Từ Hải

+ Tư thế ra đi của Từ Hải

Luận điểm 2: Cuộc đối thoại xúc động giữa Thúy Kiều và Từ Hải

+ Lời của Kiều

+ Lời của Từ Hải

+ Lời hứa của Hải với Kiều

Luận điểm 3: Quyết tâm ra đi của người anh hùng Từ Hải.

3. Kiến thức cần có trước khi làm bài

a) Kiến thức cơ bản về tác giả Nguyễn Du

– Nguyễn Du (1766 – 1820) tên tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, sinh ra tại làng Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

– Thời thơ ấu của Nguyễn Du trải qua nhiều mất mát, bất hạnh: 9 tuổi anh trai qua đời, 10 tuổi cha mất, 12 tuổi mẹ mất, ông phải sống cùng với người anh khác mẹ hơn ông 31 tuổi.

– Năm 18 tuổi, ông đậu Tam trường trong kỳ thi Hương ở trường Sơn Nam.

– Từng giữ nhiều chức quan trong triều đình, thông thạo các ngôn ngữ Trung Quốc.

– Ông là một nhà thơ, nhà văn hóa lớn thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam, được tôn xưng là đại thi hào dân tộc và được UNESCO vinh danh “Danh nhân văn hóa thế giới”.

– Trong thơ Nguyễn Du luôn luôn vang lên âm thanh, bừng lên màu sắc của sự sống, hằn lên những đường nét sắc cạnh của bức tranh hiện thực đa dạng; vừa dạt dào yêu thương, vừa bừng bừng căm giận.

– Các tác phẩm chính: các tập thơ chữ Hán Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục, tác phẩm chữ Nôm: Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều).

b) Kiến thức chung về đoạn trích Chí khí anh hùng

– Vị trí đoạn trích: “Chí khí anh hùng” trích từ câu 2213 đến câu 2230 của Truyện Kiều

– Bố cục (3 phần):

+ Phần 1 (4 câu thơ đầu): Khát vọng lên đường của Từ Hải, cuộc chia tay giữa Từ Hải và Thúy Kiều sau những năm tháng chung sống.

+ Phần 2 (12 câu thơ tiếp): Cuộc đối thoại giữa Từ Hải và Thúy Kiều

+ Phần 3 (còn lại): Ý chí, tính cách và hành động ra đi dứt khoát của Từ Hải

– Giá trị nội dung: Thể hiện lí tưởng về người anh hùng lí tưởng và gửi gắm ước mơ công lí qua hình tượng nhân vật Từ Hải.

– Giá trị nghệ thuật: Bút pháp lí tưởng hóa nhân vật, hình ảnh kì vĩ, mang tính ước lệ tượng trưng.

– Ý nghĩa nhan đề:

+ “Chí”: thể hiện ý chí con người hướng đến những việc làm lớn lao.

+ “Khí”: là nghị lực để đạt tới mục đích.

=> “Chí khí anh hùng”: là lí tưởng, nghị lực, và mục đích cao cả của người anh hùng.

– Đoạn trích Chí khí anh hùng là sáng tạo riêng của Nguyễn Du so với cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Trong “Kim Vân Kiều truyện” không có cảnh tiễn biệt của hai người và những nhớ mong, chờ đợi của Thuý Kiều sau đó.

II. Lập dàn ý chi tiết phân tích Chí khí anh hùng

Từ hệ thống luận điểm luận cứ trên, ta có thể xây dựng thành dàn ý chi tiết như sau:

1. Mở bài Chí khí anh hùng

– Giới thiệu sơ lược về tác giả Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều:

+ Nguyễn Du (1766 – 1820) là đại thi hào của dân tộc, cây đại thụ của nền văn học trung đại Việt Nam.

+ Truyện Kiều là một kiệt tác văn học của ông, một trong những thành tựu tiêu biểu nhất trong nền văn học trung đại Việt Nam.

– Giới thiệu đoạn trích Chí khí anh hùng: Đoạn trích từ câu 2213 tới 2230 trong Truyện Kiều tái hiện cảnh Kiều chia tay Từ Hải để chàng ra đi thực hiện nghiệp lớn.

2. Thân bài Chí khí anh hùng

a) Luận điểm 1: Khát vọng lên đường của người anh hùng Từ Hải (Phân tích 4 câu thơ đầu)

– Hoàn cảnh cuộc sống của Kiều và Hải lúc chia tay:

+ “Nửa năm”: Khoảng thời gian Kiều và Từ Hải chung sống.

+ “Hương lửa đương nồng”: Tình yêu nồng nàn, say đắm, cuộc sống êm đềm, ngập tràn tình yêu và hạnh phúc của Thúy Kiều – Từ Hải.

-> Từ Hải ra đi lập nên sự nghiệp lớn chính vào thời điểm cuộc sống lứa đôi với Thúy Kiều đang bắt đầu và vô cùng mặn nồng hạnh phúc.

=> Từ Hải là người có khí chất anh hùng, người đàn ông có chí khí, quyết tâm, yêu tự do.

– Tính cách và chí khí anh hùng của Từ Hải:

+ “Trượng phu”: chỉ người đàn ông có chí khí, bậc anh hùng với hàm nghĩa khâm phục, ngợi ca.

-> Thái độ trân trọng với các vị anh hùng, dựng lên dáng vẻ bệ vệ, oai nghiêm, đĩnh đạc của một tướng võ.

+ “Thoắt”: là nhanh chóng trong khoảnh khắc bất ngờ.

-> Diễn tả sự mau chóng trong việc thay đổi tâm trạng, dáng vẻ của Từ Hải, cách nghĩ, cách xử sự dứt khoát, khác thường của người anh hùng Từ Hải.

+ “Động lòng bốn phương”: công việc và chí lớn, khát khao tung hoành của người nam nhi

-> Lí tưởng anh hùng thời đại, không bị ràng buộc bởi vợ con, gia đình mà để ở bốn phương trời, ở không gian rộng lớn, quyết mưu sự nghiệp phi thường.

– Tư thế ra đi:

+ “Mênh mang”: chỉ sự rộng lớn đến mức gây cảm giác mung lung, mờ mịt.

+ “trông vời”: cái nhìn rộng lớn, sáng suốt.

-> “Trông vời trời bể mênh mang” – cụm từ mang cảm hứng vũ trụ chỉ tầm nhìn xa trông rộng và suy nghĩ phi thường.

+ “Thanh gươm yên ngựa”: một mình, một gươm, một ngựa

+ “Lên đường thẳng rong”: đi liền một mạch, không lưu luyến, bịn rịn.

-> Tư thế ra đi hào hùng, một mình một ngựa ra đi không quay đầu nhìn lại, không lưu luyến, bịn rịn tình cảm

=> Từ Hải là con người của khát vọng, công danh phi thường, có ý chí quyết tâm và bản lĩnh anh hùng.

b) Luận điểm 2: Cuộc đối thoại giữa Thúy Kiều và Từ Hải (Phân tích 12 câu thơ tiếp)

– Lời của Kiều:

+ Xưng hô: “chàng – thiếp” -> dịu dàng, ân cần.

+ “Phận gái chữ tòng”: Ý thức bổn phận

+ “Một lòng xin đi”: quyết tâm theo Từ Hải

-> Kiều yêu thương, quý trọng và thấu hiểu chồng hết mực, quyết tâm, ước muốn được đi cùng Từ Hải.

– Lời của Từ Hải:

+ “Tâm phúc tương tri”: Coi Kiều là tri kỉ, hiểu mình hơn ai hết.

+ “Nữ nhi thường tình”: Người phụ nữ ủy mị, yếu đuối

-> Từ chối ước muốn đi theo mình của Thúy Kiều, khẳng định nàng mãi là tri âm tri kỉ của mình, khuyên nàng vượt lên tình cảm thông thường để xứng đáng làm vợ một anh hùng.

– Lời hứa của Hải với Kiều

+ Mười vạn tinh binh”, “Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường” : tương lai thành công.

+ “Rõ mặt phi thường”: chứng tỏ được tài năng xuất chúng

-> Niềm tin sắt đá của Từ Hải vào một tương lai sự nghiệp tốt đẹp, rạng rỡ.

+ “Rước nàng nghi gia”: cho Kiều danh phận, cuộc sống viên mãn

-> Từ Hải hứa với Kiều khi nào sự nghiệp ổn định sẽ cưới nàng và cho nàng cuộc sống hạnh phúc ấm no. Lời thơ vừa như một lời hứa, vừa như một lời động viên an ủi Kiều.

+ “Bốn bể không nhà”: thực tế khó khăn, gian nan.

+ “Theo càng thêm bận”: việc lớn sẽ bị ảnh hưởng, không quan tâm, lo cho Kiều được

+ “Đành lòng chờ đó ít lâu”: an ủi, mong Kiều bằng lòng chờ đợi.

READ:  Cảm nhận về nhân vật Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo (Nam Cao)

+ “Một năm sau”: thời gian cụ thể. Hứa hẹn sẽ thành công

-> Từ Hải là người chồng tâm lí – người anh hùng nhưng rất vẫn đời thường, gần gũi, chân thực.

=> Từ Hải là người anh hùng có khát vọng lớn lao, tin tưởng vào tương lai lại là người tâm lí, rất đời thường.

c) Luận điểm 3: Quyết tâm ra đi của Từ Hải (Phân tích 2 câu thơ cuối)

– Hành động: Quyết lời, dứt áo ra đi

-> Thái độ, hành động dứt khoát, không hề do dự, bịn rịn, khẳng định ý chí quyết tâm của Từ Hải.

– Hình ảnh ẩn dụ “chim bằng”: Là loài chim quý tượng trưng cho người anh hùng dũng mãnh, ý chí.

-> Khẳng định Từ Hải chính là bậc anh hùng cái thế với lí tưởng cao đẹp, hùng tráng, phi thường, mang tầm vóc vũ trụ.

=> Từ Hải là người anh hùng có tài năng, bản lĩnh, chí khí, ước mơ công lí.

d) Đánh giá về nghệ thuật

– Từ ngữ trang trọng, hình ảnh ước lệ tượng trưng

– Lời đối thoại bộc lộ tính cách.

– Nghệ thuật xây dựng hình tượng người anh hùng qua dáng vẻ, hành động.

– Nghệ thuật miêu tả lí tưởng hóa nâng cao tầm vóc của nhân vật

3. Kết bài Chí khí anh hùng

– Khái quát nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

– Ý nghĩa của đoạn trích: Thể hiện ước mơ về người anh hùng lý tưởng và ca ngợi tấm chân tình của Từ Hải và Thúy Kiều, tinh thần và chí khí anh hùng của Từ Hải, phẩm chất tốt đẹp của Thúy Kiều.

>>> Tham khảo mẫu dàn ý khác: Dàn ý phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng

III. Top 3 bài văn hay phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng

Với những bài văn mẫu phân tích Chí khí anh hùng do Đọc Tài Liệu sưu tầm gửi tới các em sau đây, hi vọng sẽ là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cũng như bổ sung thêm vốn kiến thức, từ ngữ trong quá trình các em làm bài.

1. Phân tích Chí khí anh hùng bài số 1:

Đoạn trích Chí khí anh hùng từ câu 2213 đến câu 2230 trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du, nói về Từ Hải, một hình tượng nhân vật lí tưởng thể hiện ước mơ lãng mạn về một người anh hùng có những phẩm chất, phi thường.

Rơi vào lầu xanh lần thứ hai, Thúy Kiều luôn sống trong tâm trạng chán chường, tuyệt vọng:

Biết thân chạy chẳng khỏi trời,

Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.

Thế rồi Từ Hải đột nhiên xuất hiện. Từ Hải tìm đến với Thúy Kiều như tìm đến với tri âm, tri kỉ. Trong vũng lầy nhơ nhớp của chốn lầu xanh, Từ Hải đã tinh tường nhận ra phẩm chất cao quý của Thúy Kiều và với con mắt tinh đời, ngay từ cuộc gặp gỡ đầu tiên Kiều đã thầm khẳng định Từ Hải là người duy nhất có thể tát cạn bể oan cho mình. Nàng khiêm nhường bày tỏ:

Rộng thương cỏ nội hoa hèn,

Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau

Hai người, một là gái giang hồ, một đang làm “giặc”, đều thuộc hạng người bị xã hội phong kiến khinh rẻ nhất, đã đến với nhau tâm đầu ý hợp trong một mối tình tri kỉ. Từ Hải đánh giá Kiều rất cao, còn Kiều nhận ra Từ là đấng anh hùng. Nhưng tình yêu không thể giữ chân Từ Hải được lâu. Đã đến lúc Từ Hải ra đi để tiếp tục tạo lập sự nghiệp. Đoạn trích này cho thấy một Từ Hải đầy chí khí anh hùng, mà cũng đượm chút cô đơn, trống trải giữa đời.

Trước sau đối với Từ Hải, Nguyễn Du vẫn dành cho chàng thái độ trân trọng và kính phục, ở chàng, nhất cử nhất động đều thể hiện rõ chí khí, cốt cách anh hùng. Trên con đường tạo dựng nghiệp lớn, cuộc hôn nhân bất ngờ giữa chàng với Thúy Kiều chỉ là phút chốc nghỉ ngơi, chứ không phải là điểm âm, tri kỉ và cuộc hôn nhân của họ đang hạnh phúc hơn bao giờ hết. Ấy vậy mà, chỉ mới sáu tháng vui hưởng hạnh phúc bên Thúy Kiều, Từ Hải đã lại động lòng bốn phương, dứt khoát lên đường, tiếp tục sự nghiệp lớn lao đang còn dang dở:

Nửa năm hương lửa đương nồng,

Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.

Trông vời trời bể mênh mang,

Thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rong.

Từ Hải được tác giả miêu tả là con người đa tình, nhưng trước hết Từ Hải là một tráng sĩ, một người có chí khí mạnh mẽ. Chí là mục đích cao cả hướng tới, khí là nghị lực để đạt tới mục đích, ở con người này, khát khao được vẫy vùng giữa trời cao đất rộng như đã trở thành một khát vọng bản năng tự nhiên, không có gì có thể kiềm chế nổi.

Trước lúc gặp gỡ và kết duyên với Thúy Kiều, Từ Hải đã là một anh hùng hảo hán: Dọc ngang nào biết trên đầu có ai, đã từng: Nghênh ngang một cõi biên thùy. Cái chí nguyện lập nên công danh, sự nghiệp ở chàng là rất lớn. Vì thế không có gì cản được bước chân chàng.

Dù Nguyễn Du không nói cụ thể là Từ Hải ra đi làm gì nhưng nếu theo dõi mạch truyện và những câu chàng giải thích để Thúy Kiều an lòng thì người đọc sẽ hiểu cả một sự nghiệp vinh quang đang chờ chàng ở phía trước. Từ Hải không phải là con người của những đam mê thông thường mà là con người của sự nghiệp anh hùng. Đang sống trong cảnh nồng nàn hương lửa. Từ chợt động lòng bốn phương, thế là toàn bộ tâm trí hướng về trời biển mênh mang, và lập tức một mình với thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rong.

Chữ trượng phu trong Truyện Kiều chỉ xuất hiện một lần dành riêng để nói về Từ Hải. Điều đó cho thấy Nguyễn Du đã dùng từ “trượng phu” với nghĩa Từ Hải là người đàn ông có chí khí lớn. Chữ thoắt thể hiện quyết định nhanh chóng, dứt khoát cùa chàng. Bốn chữ “động lòng bốn phương” nói lên được cái ý Từ Hải “không phải là người của một nhà, một họ, một xóm, một làng mà là người của trời đất, của bốn phương” (Hoài Thanh).

Động lòng bốn phương là thấy trong lòng náo nức cái chí tung hoành khắp bốn phương trời. Con người phi thường như chàng chẳng thể giam hãm mình trong một không gian chật hẹp. Chàng nghĩ rất nhanh, quyết định lại càng nhanh. Một thanh gươm, một con tuấn mã, chàng hối hả lên đường. Ấy là bởi khát vọng tự do luôn sôi sục trong huyết quản của người anh hùng. Hoài Thanh bình luận: Qua câu thơ, hình ảnh của con người “thanh gươm yên ngựa” tưởng như che đầy cả trời đất”.

Trong cảnh tiễn biệt, tác giả tả hình ảnh Từ Hải: thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong trước rồi mới đế cho Từ Hải và Kiều nói những lời tiễn biệt. Có người cho rằng nếu như vậy thì Thúy Kiều còn nói sao được nữa? Có lẽ tác giả muốn dựng cảnh tiễn biệt này khác hẳn cảnh tiễn biệt giữa Thúy Kiều – Kim Trọng, Thúy Kiều – Thúc Sinh. Từ Hải đã ở tư thế sẵn sàng lên đường. Chàng ngồi trên yên ngựa mà nói những lời tiễn biệt với Thúy Kiều. Sự thật có phải vậy không? Không chắc, nhưng cần phải miêu tả như thế mới biểu hiện được sự quyết đoán và cốt cách phi thường của Từ Hải.

Thúy Kiều biết rõ Từ Hải ra đi sẽ lâm vào tình cảnh bốn bể không nhà, nhưng vẫn khẩn thiết xin được cùng đi, nàng rằng: Phận gái chữ tòng, chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi. Ngắn gọn thế thôi, nhưng quyết tâm thì rất cao. Chữ tòng ở đây không chỉ có nghĩa như trong sách vở thánh hiền của dạo Nho: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu…, mà còn ngụ ý tiếp sức, chia sẻ nhiệm vụ, muốn cùng được gánh vác với chồng.

Lời Từ Hải nói trong lúc tiễn biệt càng thể hiện rõ chí khí anh hùng của nhân vật này:

Từ rằng: “Tâm phúc tương tri,

Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?

Bao giờ mười vạn tinh binh,

Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp dường.

Làm cho rõ mặt phi thường,

Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.

Bằng nay bốn bể không nhà,

Theo càng thêm bận biết là đi đâu?

Đành lòng chờ đó ít lâu,

Chầy chăng là một năm sau vội gì!”

Đã là tâm phúc tương tri có nghĩa là hai ta đã hiểu biết lòng dạ nhau sâu sắc, vậy mà sao, dường như nàng chưa thấu tâm can ta, nên chưa thoát khỏi thói nữ nhi thường tình. Lẽ ra, nàng phải tỏ ra cứng cỏi để xứng là phu nhân của một bậc trượng phu.

Lí tưởng anh hùng của Từ Hải bộc lộ qua ngôn ngữ mang đậm khẩu khí anh hùng. Khi nói lời chia tay với Thúy Kiều chàng không quyến luyến, bịn rịn vì tình chồng vợ mặn nồng mà quên đi mục đích cao cả. Nếu thực sự quyến luyến, Từ Hải sẽ chấp nhận cho Thúy Kiều đi theo.

Từ Hải là con người có chí khí, khát khao sự nghiệp phi thường nên không thể đắm mình trong chốn buồng the. Đang ở trong cảnh hạnh phúc ngọt ngào, tiếng gọi của sự nghiệp thôi thúc từ bên trong. Từ Hải quyết dứt áo ra đi. Giờ đây, sự nghiệp đối với chàng là trên hết. Đối với Từ Hải, nó chẳng những là ý nghĩa của cuộc sống mà còn là điều kiện để thực hiện những ước ao mà người tri kỉ đã gửi gắm, trông cậy ở chàng. Do vậy mà không có những lời than vãn buồn bã lúc chia tay.

READ:  Soạn bài Đặc điểm của văn bản nghị luận ngắn gọn nhất

Thêm nữa, trong lời trách Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình còn bao hàm ý khuyên Thúy Kiều hãy vượt lên tình cảm thông thường để xứng đáng là vợ của một anh hùng. Cho nên sau này trong nỗi nhớ của Kiều: Cánh hồng bay bổng tuyệt vời, Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm, không chỉ có sự mong chờ, mà còn có cả hi vọng vào thành công và vinh quang trong sự nghiệp của Từ Hải.

Từ Hải là con người rất mực tự tin. Trước đây, chàng đã ngang nhiên xem mình là anh hùng giữa chốn trần ai. Giờ thì chàng tin rằng tất cả sự nghiệp như đã nắm chắc trong tay. Dù xuất phát chỉ với thanh gươm yên ngựa, nhưng Từ Hải đã tin rằng mình sẽ có trong tay mười vạn tinh binh, sẽ trở về trong hào quang chiến thắng “Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường”, “để rõ mặt phi thường” với Thúy Kiều, để đem lại vẻ vang cho người phụ nữ mà chàng hết lòng yêu mến và trân trọng. Từ Hải đã khẳng định muộn thì cũng không quá một năm, nhất định sẽ trở về với cả một cơ đồ to lớn.

Không chút vấn vương, bi lụy, không dùng dằng, quyến luyến như trong các cuộc chia tay bình thường khác, Từ Hải có cách chia tay mang đậm dấu ấn anh hùng của riêng mình. Lời chia tay mà cũng là lời hứa chắc như đinh đóng cột; là niềm tin sắt đá vào chiến thắng trong một tương lai rất gần. Hai câu thơ cuối đoạn đã khẳng định thêm quyết tâm ấy:

Quyết lời dứt áo ra đi,

Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi.

Nguyễn Du mượn hình ảnh chim bằng (đại bàng) trong văn chương cổ điển, thường tượng trưng cho khát vọng của những người anh hùng có bản lĩnh phi thường, muốn làm nên sự nghiệp lớn lao để chỉ Từ Hải. Cuộc ra đi đột ngột, không báo trước, thái độ dứt khoát lúc chia tay, niềm tin vào thắng lợi… tất cả đều bộc lộ chí khí anh hùng của Từ Hải. Đã đến lúc chim bằng tung cánh bay lên cùng gió mây chín ngàn dặm trên cao.

Hình ảnh: gió mây bằng đã đến kì dặm khai là mượn ý của Trang Tử tả chim bằng khi cất cánh lên thì như đám mây ngang trời và mỗi khi bay thì chín vạn dặm mới nghỉ, đối lập với những con chim nhỏ chỉ nhảy nhót trên cành cây đã diễn tả những giây phút ngây ngất say men chiến thắng của con người phi thường lúc rời khỏi nơi tiễn biệt.

Hình tượng người anh hùng Từ Hải là một sáng tạo đặc sắc của Nguyễn Du về phương diện cảm hứng và nghệ thuật miêu tả. Qua đó thể hiện tài năng sử dụng ngôn ngữ của nhà thơ trong việc diễn tả chí khí anh hùng cùng khát vọng tự do của nhân vật Từ Hải.

Từ Hải là hình ảnh thể hiện mạnh mẽ cái ước mơ công lí vẫn âm ỉ trong cảnh đời tù túng của xã hội cũ. Từ Hải ra đi để vẫy vùng cho phỉ sức, phỉ chí, nhưng nếu hiểu kỹ càng còn thêm một lí do nữa là vì bất bình trước những oan khổ của con người bị chà đạp như Thúy Kiều thì không hẳn là không có căn cứ. Điều chắc chắn là cái khao khát của Từ Hải muốn được tung hoành trong bốn bể để thực hiện ước mơ công lí chứ không bao giờ nhằm mục đích thiết lập một ngai vàng quyền lực tầm thường.

Nguyễn Du đã thành công trong việc chọn lựa từ ngữ, hình ảnh và biện pháp miêu tả có khuynh hướng lí tưởng hóa để biến Từ Hải thành một hình tượng phi thường với những nét tính cách đẹp đẽ, sinh động. Đoạn trích tuy ngắn nhưng ý nghĩa lại rất lớn. Nó góp phần tô đậm tính cách của người anh hùng Từ Hải – nhân vật lí tưởng, mẫu người đẹp nhất trong kiệt tác Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.

Tham khảo:

2. Phân tích Chí khí anh hùng bài số 2:

Nguyễn Du là một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam, được mệnh danh là đại thi hào, trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, Nguyễn Du đã để lại nhiều tác phẩm hay và có giá trị, nổi bật nhất có thể kể đến đó chính là đại kiệt tác Truyện Kiều. Đoạn trích Chí khí anh hùng là một trong những đoạn trích khá tiêu biểu, Nguyễn Du đã miêu tả chân dung cũng như khát vọng làm nên sự nghiệp lớn của người anh hùng Từ Hải.

Trong đoạn trích Chí khí anh hùng, tác giả Nguyễn Du đã tập trung miêu tả và làm nổi bật lên vẻ đẹp ý chí và phẩm chất của Từ Hải. So với nhân vật Từ Hải trong tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện thì nhân vật Từ Hải của Nguyễn Du hoàn toàn khác, đó không phải một tên tướng cướp như nguyên mẫu mà là một người anh hùng đầu đội trời, chân đạp đất có bản lĩnh và ý chí phi thường. Cảm hứng ca ngợi cùng bút pháp ước lệ tượng trưng khiến cho nhân vật Từ Hải hiện lên lớn lao, kì vĩ, mang đầy đủ phẩm chất của người những người anh hùng xưa.

Khi Thúy Kiều đang tuyệt vọng, chìm đắm trong cuộc sống đau khổ, ê chề nơi lầu xanh thì Từ Hải đã xuất hiện và cứu nàng ra khỏi chốn tửu sắc đầy thị phi ấy. Nhờ có Từ Hải mà Thúy Kiều được báo ân báo oán, được hưởng hạnh phúc vợ chồng như những người phụ nữ bình thường khác. Tuy cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng vẫn không thể che khuất được khát vọng lập thân to lớn của Từ Hải. Vì vậy mà dù không đành lòng nhưng Từ Hải vẫn phải để Thúy Kiều ở lại còn bản thân mình thì ra đi thực hiện hoài bão:

“Nửa năm hương lửa đương nồng

Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương

Trông vời trời bể mênh mang

Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”

Thúy Kiều và Từ Hải đã có nửa năm bên nhau, cuộc sống êm ấm, hạnh phúc nhưng với hoài bão lớn của người anh hùng, Từ Hải đã “động lòng bốn phương”. Cách sử dụng từ ngữ đầy tính ước lệ đã làm nổi bật lên khát vọng lập công danh, sự nghiệp của Từ Hải. Dù yêu thương, trân trọng tình yêu với Thúy Kiều nhưng khát vọng anh hùng đã không cho phép Từ Hải lùi bước, tương lai, sự nghiệp phía trước “mênh mang” chưa xác định nhưng với bản lĩnh kiên cường, khát vọng lớn lao ấy hình ảnh ra đi của Từ Hải đẹp đẽ như những bậc trượng phu xưa.

Đối với Thúy Kiều mà nói, Từ Hải không chỉ là người chồng mà nàng thương yêu, trân trọng mà đó còn là người mà nàng mang ơn, chính Từ Hải đã cứu nàng ra khỏi chốn lầu xanh. Trước quyết định ra đi của Từ Hải, nàng biết không thể ngăn cản nhưng cũng không đành lòng để chàng ra đi đơn độc, Thúy Kiều đã bày tỏ mong muốn được đi theo để chăm sóc, nâng khăn sửa túi cho chàng:

“Nàng rằng: Phận gái chữ tòng

Chàng đi thiếp cũng quyết lòng xin đi”

Thúy Kiều đề cao quan niệm “xuất giá tòng phu” của đạo đức Nho giáo xưa, nàng muốn được đi theo để tiện bề chăm sóc cũng như giúp đỡ cho Từ Hải. Trước yêu cầu đầy chân thành của Thúy Kiều, Từ Hải đã rất cảm động nhưng cuối cùng chàng không đồng ý vì sợ Thúy Kiều thân con gái đi theo sẽ phải chịu khổ. Như để an ủi nàng, Từ Hải đã hứa hẹn bao giờ lập lên sự nghiệp lớn sẽ rước nàng “nghi gia”:

“Từ rằng: Tâm phúc tương tri

Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?

Bao giờ mười vạn tinh binh

Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường

Làm cho rõ mặt phi thường

Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia”

Theo Từ Hải, Thúy Kiều chưa thoát khói thói nữ nhi thường tình đồng thời đó cũng là lời động viên để nàng không phải lo lắng khi mình lên đường thực hiện nghiệp lớn. Là một người anh hùng đầu đội trời chân đạp đất, Từ Hải quyết tâm ra đi gây dựng nghiệp lớn để có thể nắm trong tay “mười vạn tinh binh”. Và khi sự nghiệp đã thành, chàng sẽ trở về để đón Kiều nghi gia trong “tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp trời”.

Qua những lời đối thoại của Từ Hải với Thúy Kiều trước lúc ra đi đã thể hiện được chí khí lớn lao của người anh hùng mang trong mình khát vọng lớn. Tuy nói Thúy Kiều đi theo sẽ thêm vướng bận nhưng thật ra nguyên nhân chính Từ Hải không muốn Thúy Kiều đi theo là vì không muốn nàng phải chịu khổ, sợ nàng không thể thích ứng được với cuộc sống bốn bể là nhà:

“Bằng ngay bốn bể không nhà

Theo càng thêm bận, biết là đi đâu”

Để Thúy Kiều có thể yên tâm hơn, Từ Hải đã khẳng định thời gian mà mình ra đi là một năm, Từ Hải đã động viên Thúy Kiều về một tương lai chiến thắng, chàng sẽ trở về trong sự hiển hách, vinh quang:

READ:  Phân tích Vĩnh biệt cửu trùng đài của Nguyễn Huy Tưởng

“Đành lòng chờ đó ít lâu

Chầy chăng là một năm sau vội gì.”

Cuộc chia tay giữa Từ Hải cũng thật khác lạ, đó không phải là những lời tâm tình nỉ non mà lại là những lời hứa hẹn về một tương lai tất thắng, qua đó ta có thể thấy được những phẩm chất trượng phu trong con người của Từ Hải, đó là con người dùng hành động để thể hiện tình cảm với người mình yêu.

Đoạn trích “Chí khí anh hùng” đã xây dựng thành công hình tượng người anh hùng đầu đội trời chân đạp đất Từ Hải, đó không chỉ là một con người giàu tình cảm mà còn là một người anh hùng có khát vọng lớn cùng ý chí, quyết tâm đầy mạnh mẽ, quyết liệt.

Xem thêmPhân tích chí khí anh hùng của Từ Hải trong đoạn trích Chí khí anh hùng

3. Phân tích Chí khí anh hùng bài số 3:

Nhắc đến đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, ta không thể nào không nhắc đến “Truyện Kiều” – một tác phẩm chứa đựng tinh thần nhân đạo sâu sắc, đề cao giá trị con người và lên tiếng tố cáo xã hội phong kiến thối nát. Đoạn trích “Chí khí anh hùng” trích trong “Truyện Kiều“, Nguyễn Du đã dành những lời thơ của mình để nói về Từ Hải – người anh hùng lí tưởng có những phẩm chất cao đẹp, phi thường.

Có thể nói trong đoạn trích này, Nguyễn Du đã xây dựng một hình tượng nhân vật Từ Hải hoàn toàn mới so với hình tượng nhân vật này trong “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân, ở “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, hình tượng Từ Hải giống như một tướng cướp đã bị lược bỏ, thay vào đó là một hình tượng Từ Hải như một vị anh hùng tuyệt đẹp, phi thường. Hình tượng này là sự hợp nhất của hình tượng nhân vật có tính ước lệ – là nghệ thuật miêu tả nhân vật đặc sắc của Nguyễn Du và hình tượng con người vũ trụ với nét vĩ đại, lớn lao.

Sau khi bị mắc bẫy và rơi vào chốn lầu xanh lần thứ hai, Kiều luôn sống trong tâm trạng đau khổ, giày vò. Giữa lúc ấy, Từ Hải xuất hiện như một vị cứu tinh giúp Kiều thoát khỏi chốn lầu xanh đầy nhơ nhớp ấy. Nhưng tình yêu giữa Thúy Kiều và Từ Hải vẫn không thể nào che khuất đi ước mơ gây dựng một sự nghiệp lớn lao ở con người này. Đó chính là lí do mà khi mối tình của họ vừa chớm nở được “nửa năm” thì Từ Hải đã tiếp tục lên đường với khát khao cháy bỏng gây dựng sự nghiệp của mình:

Nửa năm hương lửa đương nồng

Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương

Trông vời trời bể mênh mang

Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong

Mặc dù trong thời gian sáu tháng, tình yêu của họ luôn nồng nàn, cháy bỏng nhưng với chí lớn và khát khao công danh nghiệp lớn Từ Hải thoắt đã “động lòng bốn phương”. “Lòng bốn phương” ở đây là hình ảnh tượng trưng, ước lệ cho chí nguyện lập công danh, sự nghiệp của Từ Hải. Hình ảnh “trời bể mênh mang” cũng mang ý nghĩa tương tự như vậy. Chúng như một sự ước lệ tạo nên một tầm vóc lớn lao, phi thường cho Từ Hải. Có thể nói tình yêu hay bất cứ một cái gì cũng không đủ sức để ngăn cản được bước chân của chàng.

Trong cả một tác phẩm dài, Nguyễn Du chỉ dành duy nhất một từ “trượng phu” cho Từ Hải như thể khẳng định một chí khí lớn ở chàng. Hình ảnh “thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong” diễn tả một phong thái ung dung của người “trượng phu” trên con đường gây dựng sự nghiệp ấy.

Đối với Thúy Kiều, Từ Hải không chỉ như một người chồng mà còn như một vị ân nhân có ơn vô cùng lớn đã cứu Kiều thoát khỏi chốn lầu xanh ô nhục. Vì vậy, trước quyết tâm ra đi vì nghiệp lớn của chồng mình, Thúy Kiều đã xin đi theo để là người chăm sóc, nâng khăn sửa túi cho chàng:

Nàng rằng: Phận gái chữ tòng

Chàng đi thiếp cũng quyết lòng xin đi

Nàng xin đi để được làm trọn chữ “tòng” vì theo nàng thì “xuất giá tòng phu” lấy chồng thì phải theo chồng, nguyện cùng chồng gánh vác mọi chuyện. Nhưng lời Từ Hải đã quyết, như để làm an lòng Thúy Kiều:

Từ rằng: Tâm phúc tương tri

Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?

Bao giờ mười vạn tinh binh

Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường

Làm cho rõ mặt phi thường

Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia

Trước lời xin đi theo của Thúy Kiều, Từ Hải như trách Kiều: “Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình”, đó cũng như một lời khuyên Kiều đừng xem nặng quá vấn đề “lấy chồng là phải theo chồng”, hãy xem nhẹ chuyện tình cảm vì sự nghiệp lớn lao của chồng. Với một quyết tâm, chí khí lớn lao, Từ Hải nói như hứa hẹn sẽ gây dựng được một cơ đồ to lớn, nắm chắc trong tay “mười vạn tinh binh” và chàng sẽ trở về để đón Kiều trong “tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp trời”. Lúc thành công quay trở lại cũng là lúc Từ Hải sẽ “rước nàng nghi gia”, đem lại địa vị và danh phận cho người mà chàng xem là tri âm tri kỉ.

Những lời của Từ Hải vào khoảnh khắc tiễn biệt này càng làm rõ “chí khí anh hùng” của nhân vật này, thay vì những lời nói thể hiện sự bịn rịn, quyến luyến khi chia tay thì là những ước mơ, sự khẳng định nhất định sẽ thành công của chàng.

Từ Hải còn thể hiện chí khí của mình ở việc cho rằng Thúy Kiều đi theo sẽ “càng thêm bận” nhưng sâu thẳm bên trong là sự lo lắng cho Kiều khi đi theo sẽ phải chịu cực khổ, nay đây mai đó “bốn bể không nhà”:

Bằng ngay bốn bể không nhà

Theo càng thêm bận, biết là đi đâu

Chàng còn dám khẳng định chắc chắn thời gian mà mình sẽ quay về đó là khoảng thời gian một năm. Từ Hải khuyên Kiều ở nhà đợi chàng trở về trong sự chiến thắng vẻ vang, hiển hách:

Đành lòng chờ đó ít lâu

Chầy chăng là một năm sau vội gì.

Cách chia tay của Từ Hải rất khác biệt ở chỗ những lời chia tay được thay bằng những lời hứa vào một chiến thắng không xa, sự quyến luyến được thay bằng một quyết tâm vào tương lai.

Quyết lời dứt áo ra đi

Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi

Chàng dứt khoát ra đi với một quyết tâm sắt đá như cánh chim bằng khi đã cất cánh tung bay trên bầu trời thì phải bay thật xa mới nghỉ cũng như Từ Hải khi đã chiến thắng, thành công thì mới quay trở về.

Với đoạn trích “Chí khí anh hùng“, Nguyễn Du đã xây dựng được một hình tượng người anh hùng lí tưởng hoàn toàn mới. Có thể nói Nguyễn Du đã thực sự thành công khi xây dựng hình tượng nhân vật này chính bằng tài năng nghệ thuật thể hiện ở sự sáng tạo độc đáo và sự đam mê văn chương của mình.

IV. Kiến thức mở rộng

– Từ Hải (? – 1556) trong chính sử vốn là một thủ lĩnh xuất quỷ nhập thần của một đám cướp biển miền duyên hải Giang Nam.

– Thái độ và ước mơ của Nguyễn Du qua Từ Hải:

+ Có giai thoại như sau: Vua Tự Đức khi đọc đến đoạn Nguyễn Du viết về Từ Hải đã đòi phạt tác giả 300 roi. Tại sao lại vậy? Vì theo giai cấp phong kiến, Từ Hải chỉ là một tên giặc cỏ. Trong “Kim Vân Kiều truyện”, Từ Hải cũng được miêu tả là một tên có nét tướng cướp. Nhưng khi bước vào “Truyện Kiều”, con người dám chống lại triều đình ấy được miêu tả như một anh hùng. Nguyễn Du đã dùng những hình ảnh đẹp nhất để miêu tả Từ. Từ Hải là bóng dáng của những người anh hùng nông dân khởi nghĩa với bao phen thay đổi sơn hà.

+ Thái độ của tác giả với Từ Hải: yêu quý, cảm phục. Nguyễn Du đã dồn nén giấc mơ về tự do và công lí của mình trong con người Từ Hải. Quan điểm về người anh hùng của tác giả: người anh hùng phải làm được những việc lớn lao, dám nghĩ dám làm, có dáng vẻ phóng khoáng, dứt khoát, oai nghiêm.

+ Từ Hải là hiện thân cho giấc mơ tự do, công lí của Nguyễn Du.

Sơ đồ tư duy phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng

So do tu duy phan tich Chi khi anh hung trong Truyen Kieu (Nguyen Du)

Tổng kết phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng

Trên đây là những gợi ý chi tiết của Đọc Tài Liệu giúp các em có thể viết được một bài văn hay phân tích Chí khí anh hùng của Nguyễn Du. Ngoài ra, các em có thể tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu 10 hay khác được chúng tôi tổng hợp và cập nhật thường xuyên. Chúc các em luôn học tốt và đạt kết quả cao !

Huyền Chu (Tổng hợp)

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: kiến thức chung