Dàn ý phân tích đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

[Văn mẫu 10] Dàn ý phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ chi tiết nhất, các ý chính cần triển khai để làm rõ nỗi nhớ nhung, ngóng trông, sự lẻ loi của chinh phụ.

Dàn ý phân tích đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ dưới đây do Đọc tài liệu tổng hợp và biên soạn sẽ là tài liệu hữu ích giúp các em tiếp thu kiến thức về tác phẩm này một cách dễ dàng và sâu sắc. Cùng tham khảo nhé!

Đề bài

Em hãy phân tích đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ để thấy được tình cảnh cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ

***

Dàn ý phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

I. Mở bài

– Giới thiệu tác giả Đặng Trần Côn và dịch giả Đoàn thị Điểm: tên tuổi, con người, sự nghiệp văn chương

– Giới thiệu tác phẩm Chinh phụ ngâm (hoàn cảnh sáng tác) và đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (vị trí, nội dung đoạn trích).

Xem thêm: Soạn bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

II. Thân bài

1.    16 câu đầu: Tình cảm cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ.

a.    Hành động lặp đi lặp lại một cách nhàm chán, vô vị.

– “Thầm reo từng bước”: Bước chân lặng lẽ dạo trên hiên vắng.

– “Rủ thác đòi phen”: Vào trong phòng cuốn rèm, buông rèm

=>  Hành động lặp lại đi lặp lại một cách vô thức, thể hiện sự bần thần, bất định của người chinh phụ

– Chữ “vắng, thưa”: Không chỉ gợi sự vắng lặng của không gian mà còn cho thấy nỗi trống vắng trong lòng người người chinh phụ

b.    Thao thức ngóng trông tin chồng

– Ban ngày:

+ Người chinh phụ gửi niềm hi vọng vào tiếng chim thước – loài chim khách báo tin lành.

+ Nhưng thực tế “thước chẳng mách tin”: Tin tức chồng vẫn bặt vô âm tín.

– Ban đêm:

+ Người chinh phụ thao thức cùng ngọn đèn hi vọng đèn biết tin tức về chồng, san xẻ nỗi lòng cùng nàng.

+ Thực tế: “Đèn chẳng biết” “lòng thiếp riêng bi thiết” Câu thơ có hình thức đặc biệt khẳng định rồi lại phủ định, ngọn đèn có biết cũng như không vì nó chỉ là vật vô tri không thể san sẻ nỗi lòng cùng người chinh phụ.

+ So sánh với bài ca dao “khăn thương nhớ ai”, bài ca dao cũng có xuất hiện hình ảnh ngọn đèn. Nếu “đèn” trong bài ca dao là tri âm tri kỉ với người phụ nữ thì ở đây ngọn “đèn” lay lắt lại cứa sâu thêm nỗi đau trong lòng người.

– Hình ảnh so sánh “hoa đèn” và “bóng người”.

+ “Hoa đèn” đầu bấc ngọn đèn, thực tế là than. Cũng giống như ngọn đèn cháy hết mình để rồi chỉ con hoa đèn tàn lụi, người phụ nữ đau đáu hết lòng chờ chồng nhưng cuối cùng nhận lại sự cô đơn, trống trải.

+ Liên hệ với nỗi cô đơn của Thúy Kiều sau khi từ biệt Thúc Sinh trở về với chiếc bóng năm canh:

“Người về chiếc bóng năm canh/Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi”

c.    Cảm nhận khác thường của người chinh phụ về ngoại cảnh.

– “Gà gáy”, “sương”, “hòe”: Là những hình ảnh gắn với cuộc sống thôn quê bình dị, yên ả

– Từ láy “eo óc, phất phơ”: Cực tả vẻ hoang vu, ớn lạnh đến ghê rợn của cảnh vật.

=>  Dưới con mắt trống trải cô đơn cả người chinh phụ, những cảnh vật vốn gắn với cuộc sống yên bình, êm ả nay trở nên khác thường, hoang vu, ớn lạnh. Đó là cách nói tả cảnh để ngụ tình.

d.    Cảm nhận khác thường của người chinh phụ về thời gian.

– “Khắc giờ đằng đẵng”, “mối sầu dằng dặc”: Thể hiện sự dàn trải của nỗi nhớ miên man không dứt.

– Biện pháp so sánh kết hợp với các từ láy giàu giá trị gợi hình gợi cảm “dằng dặc, đằng đẵng” cho thấy sự cảm nhận khác thường về thời gian, mỗi phút mỗi giờ ngắn ngủi trôi qua mà nặng nề như một năm dài, thời gian càng dài mối sầu càng nặng nề hơn.

=>  Câu thơ cực tả nỗi cô đơn tột cùng tột độ trong lòng người chinh phụ

e.    Hoạt động gắng gượng duy trì nếp sống hằng ngày.

– Điệp từ “gượng”: nhấn mạnh sự cố gắng gò ép mình của người chinh phụ

– Mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm:

+ Đốt hương tìm sự thanh thản nhưng tình cảm lại mê man theo những suy nghĩ viển vông, khắc khoải, những dự cảm chẳng lành

+ Soi gương nhưng chỉ thấy hiện lên đó gương mặt đau khổ đầm đìa nước mắt.

+ Gượng gảy đàn sắt đàn cầm để ôn lại kỉ niệm vợ chồng nhưng lại lo lắng có điềm gở. Sự lo lắng không chỉ cho thấy nỗi cô đơn mà còn cho thấy niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ.

=>  Tiểu kết:

– Nội dung: Khắc họa tâm trạng cô đơn, lẻ loi, trống vắng của người phụ nữ, ẩn sau đó thái độ cảm thông, chia sẻ của tác giả đối với nỗi đau khổ của con người.

READ:  Soạn bài Bức thư của thủ lĩnh da đỏ (Xi-át-tơn)

– Nghệ thuật:

+ Giọng thơ trầm buồn, khắc khoải, da diết, trầm lắng

+ Khắc họa nội tâm nhân vật tài tình, tinh tế thông qua hành động nhân vật, yếu tố ngoại cảnh, độc thoại nội tâm

+ Các biện pháp tu từ: So sánh, điệp từ, từ láy.

2.    Nỗi nhớ nhung của người chinh phụ.

a.    Ước muốn của người chinh phụ.

– “Gió đông”: Gió mùa xuân mang theo hơi ấm và sự sống

– “Non Yên”: Điển tích chỉ nơi biên ải xa xôi

– “Nghìn vàng”: Hình ảnh ẩn dụ cho tấm lòng của người chinh phụ (buồn tủi, cô đơn, lo lắng, trống vắng, hi vọng rồi lại thất vọng)

=>  Với các hình ảnh ẩn dụ và điển tích đã cho thấy ước muốn của người chinh phụ gửi gắm niềm hi vọng, thương nhớ vào ngọn gió xuân mang đến nơi chiến trường xa xôi để người chinh phu thấu hiểu và trở về cùng nàng.

b.    Nỗi nhớ của người chinh phụ

– Thủ pháp điệp liên hoàn “Non yên – non yên, trời – trời”: Nhấn mạnh khoảng cách xa xôi, trắc trở không gì có thể khỏa lấp, đồng thời cực tả nỗi nhớ vời vợi , đau đáu trong lòng người chinh phụ

– Từ láy “thăm thẳm, đau đáu”: Cực tả cung bậc của nỗi nhớ, thẳm thẳm là nỗi nhớ sâu, dai dẳng, triền miên, đáu đáu là nỗi nhớ gắn với nỗi đau, nỗi sầu.

=> Câu thơ ghi lại một cách tinh tế, cảm động sắc thái nỗi nhớ, nỗi nhớ mỗi lúc một tăng tiến, dồn nén trở thành nỗi đau xót xa.

=>  Sự tinh tế, nhạy cảm, đồng điệu của tác giả.

c.    Mối quan hệ giữa ngoại cảnh và tâm cảnh.

– “Cảnh buồn”, “người thiết tha lòng”: Cảnh và người đều gặp nhau ở nỗi buồn và niềm đau

– Cảnh vốn là vật vô tri nhưng tâm trạng của con người đã nhuốm sầu cảnh vật.

=>  Thủ pháp tả cảnh ngụ tình, người chinh phụ đã hướng nỗi buồn ra ngoài cảnh vật khiến nó cũng trở nên não nề.

=>  Tiểu kết.

– Nội dung: Khắc họa nỗi buồn, nỗi đau, nỗi nhớ của người chinh phụ, ẩn sau đó là sự đồng cảm, trân trọng của tác giả đối với số phận và phẩm hạnh người phụ nữ

– Nghệ thuật:

+ Sử dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ, điệp liên hoàn, từ láy

+ Thủ pháp tả cảnh ngụ tình

+ Giọng điệu da diết, buồn thương

III. Kết bài

– Khái quát nội dung và nghệ thuật của đoạn trích

– Liên hệ với số phận của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến phải xa chồng vì chiến tranh phi nghĩa: Vũ Nương. Qua đó, phê phán chiến tranh phi nghĩa tước đi hạnh phúc người phụ nữ.

Sơ đồ tư duy phân tích đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Xem sơ đồ tư duy: Phân tích đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Bài văn mẫu phân tích đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Phải chăng trong bất cứ cuộc chia li nào thì người ở lại cũng là người đau khổ nhất. Nền văn học Việt Nam đã chứng kiến biết bao cuộc chia li trong lịch sử, đặc biệt ở thế kỉ XVIII, Đặng Trần Côn đã lấy bối cảnh cuộc chia li đầy lưu luyến, bi thương của người phụ nữ phải xa chồng trong thời gian dài, chờ tin chồng ra trận trở về với khao khát hạnh phúc lứa đôi qua khúc ngâm “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”.

Hiện thực chiến tranh tàn khốc, Đặng Trần Côn đã hướng ngòi bút nhân đạo của mình đến nỗi đau của người phụ nữ để cất lên tiếng nói của cả thời đại. Tác giả lên án chiến tranh phi nghĩa, cướp đi cuộc sống ấm no, hạnh phúc của con người. Có lẽở nơi chiến trường kia, chinh phu đang phải đối diện cận kề với cái chết thì ở nơi quê nhà chinh phụ cũng đang mong mỏi chờ đợi tin tức của chồng trong vô vọng, buồn tủi. Với thể thơ song thất lục bát, đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn ở người chinh phụ với khao khát được sống trong tình yêu, trong hôn nhân hạnh phúc gia đình.

Ở tám câu thơ đầu, nhà thơ đã miêu tả nỗi cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ khi chờ tin chồng ở nơi chiến trận:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,

Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.

Ngoài rèm thước chẳng mách tin,

Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?

Đèn có biết dường bằng chẳng biết,

Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

Buồn rầu nói chẳng nên lời,

Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”

Giữa không gian tĩnh mịch và vắng vẻ, người phụ nữ bồn chồn, thấp thỏm chờ tin chồng chính là hiện thân của nỗi cô đơn. Nếu tiếng yêu thúc giục nàng Kiều “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” thì ở đây, trước hiên vắng người phụ nữ lại “thầm gieo từng bước”. Không gian mà thi sĩ gợi ra ở đây chính là “hiên vắng” nhỏ hẹp trước nhà.Nàng lo lắng, đi đi lại lại như muốn gieo rắc vào lòng người đọc những thanh âm của sự cô đơn, lẻ bóng. Mặc dù xuất hiện với hành động “dạo” thế nhưng những bước chân ấy có chút gì đó nặng nề để “thầm gieo từng bước”. Có lẽ, thẳm sâu trong tâm hồn người phụ nữ đó đang chất chứa những nỗi niềm, tâm sự được bộc lộ thành những hành động dường như vô thức, nàng buông rèm rồi lại kéo rèm: “Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.” Hành động đó cho thấy người chinh phụ như đang trông ngóng tin tức của chồng ở nơi biên ải xa xôi nhưng nàng đều nhận lại được sự im lặng đến đáng sợ.Dù trong bất cứ tư thế nào thì những tình cảm thương nhớ ấy cũng không khỏi khắc khoải, thường trực trong tâm hồn người chinh phụ.

READ:  Phân tích hình ảnh người bà trong bài thơ Bếp lửa

Hành động “rủ”, “thác” ấy lại gợi nhắc đến sự nhớ mong trong vô hạn.Nàng cuốn rèm với sự chờ đợi, mong ngóng con “chim thước” ở “ngoài rèm” sẽ đem đến tin vui cho nàng về người chồng đang chinh chiến nơi chiến trường.Nỗi nhớ của người chinh phụ được bộc lộ qua nhiều chiều không gian khác nhau, không chỉ ở “ngoài rèm” mà cả ở “trong rèm”.Thế giới nội tâm của nàng nhuốm màu sắc tâm trạng. Người chinh phụ đã tự vấn mình rằng “Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?”. Trong nỗi bồn chồn khắc khoải ấy, người phụ nữ không biết chia sẻ cùng ai, đành bộc lộ những tâm tư tình cảm đó với một ngọn đèn leo lét “Đèn có biết dường bằng chẳng biết”. Nhà thơ đã sử dụng điệp ngữ bắc cầu “đèn biết chăng- đèn có biết” đã diễn tả tâm trạng buồn lê thê trong thời gian vô tận và không gian tĩnh mịch, cô đơn dường như không bao giờ kết thúc. Đó là câu hỏi tu từ nhưng cũng là lời than thở, tự dằn vặt mình.Ngọn đèn đã chứng kiến và soi tỏ nỗi lòng của người chinh phụ, bởi “đèn” chính là người thức cùng, cùng người chinh phụ giãi bày tâm sự, nhớ mong. Nỗi buồn ấy không thể bộc lộ mà người phụ nữ chỉ muốn giữ riêng cho mình: “Lòng thiếp riêng bi thiếp mà thôi”. Người phụ nữ cảm thấy cô đơn, trống trải trong chính căn phòng của mình bởi chính không gian chật hẹp, vắng vẻ nơi đây đã làm nàng gợi nhớ đến biết bao kỉ niệm quen thuộc. Thế nhưng để tìm được một người để có thể giúp nàng giãi bày tâm sự, lắng nghe nàng nói quả là một điều không phải dễ dàng.Nàng giữ riêng mình nàng biết, bởi có nói ra cũng đâu có ai hiểu được, đâu có ai đồng cảm với nàng.

Chủ thể của nỗi nhớ được hiện ra ngày càng rõ nét hơn với hình ảnh “Hoa đèn kia với bóng người khá thương”. Hình ảnh “hoa đèn” gợi nhắc đến bóng người thương đó chính là chồng nàng, người cùng nàng gắn bó cả cuộc đời thế nhưng nay nàng chẳng có một chút tin tức gì về người chồng đang tham gia chinh chiến nơi chiến trường để bảo vệ nền độc lập của tổ quốc, bảo vệ no ấm cho dân lành. Nàng thấy số phận mình chỉ như kiếp “hoa đèn” mong manh trước gió và có thể dập tắt bất cứ lúc nào. Hình ảnh “ngọn đèn”, “hoa đèn” cùng với hình ảnh cái bóng trên tường của nàng gợi nhắc cho ta nhớ đến hình ảnh ngọn đèn không tắt trong bài ca dao quen thuộc: “Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt?”.Phải chăng ngọn đèn của tình yêu ấy vẫn luôn cháy rực trong bóng đêm yên lặng vì đang nhung nhớ một “bóng người khá thương” chăng?Nỗi buồn của người chinh phụ đã bao trùm lên cả không gian và thời gian, tác giả đã đi đến tận cùng của nỗi nhớ trong lòng người chinh phụ.

Nỗi nhớ chồng của người chinh phụ không chỉ được bao bọc trong không gian chật hẹp là căn buồng vắng, mà nỗi nhớ ấy còn được thường nhắc qua thiên nhiên, qua cảnh vật để nói lên tâm trạng của nhân vật trữ tình:

“Gà eo óc gáy sương năm trống,

Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.

Khắc giờ đằng đẵng như niên,

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

Hương gượng đốt hồn đà mê mải,

Gương gượng soi lệ lại châu chan.

Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,

Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.”

Có lẽ, chính sự tương tư mong nhớ chồng cả ngày lẫn đêm đã làm cho người chinh phụ phải trằn trọc suốt cả đêm dài. Nàng cảm nhận được từng khoảnh khắc trôi qua, từng cảnh vật trong đêm khuya tĩnh lặng đó là tiếng gà gáy “sương năm trống”,là những cành “hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”. Thế nhưng tiếng gà ấy lại “eo óc” gợi cho ta thấy trong một không gian tĩnh lặng, tiếng gà vang lên tang tóc, tang thương đến chán chường. Từ láy “phất phơ” có tính gợi hình cao cho thấy tâm trạng trông mong, ngóng chờ một chút tin tức về chồng của người chinh phụ. Nàng đã thức trọn cả năm canh, chính nỗi nhớ đã khiến cho nàng cảm thấy mỗi giờ trôi qua đều dài “đằng đẵng” như một năm trôi qua vậy.Thời gian không còn tuần tự như nhịp sinh học bình thường của nó nữa mà đã được tác giả so sánh với “mối sầu dằng dặc tựa miền biền xa”.Đó chính là nỗi buồn mênh mang, vô tận, rộng lớn như biểnvà nó luôn chảy trôi mãi mãi. Hai từ láy “dằng dặc” và “đằng đẵng” đã cụ thể hóa nỗi nhớ của người chinh phụ, cho thấy tâm trạng buồn triền miên, kéo dài vô vọng của nàng.

READ:  Soạn bài Ôn tập văn biểu cảm

Người phụ nữ ấy vẫn đang chiến đấu với nỗi cô đơn trong chính tâm hồn mình, để những hành động của nàng giờ đây chỉ là “gượng”. Điệp từ “gượng” được lặp đi lặp lại ba lần, nàng “gượng” đốt hương, “gượng” soi gương, “gượng” gẩy những phím đàn nhưng nàng nhận ra rằng, dù mình có cố gắng làm gì đi chăng nữa thì cũng chẳng còn ai ở cạnh để thưởng thức những âm vang đó. Nàng “gượng” đốt hương để cho căn phòng chìm ngập trong hương thơm thoang thoảng nhưng nàng lại chìm vào cơn mê man khi “hồn đà mê mải”. Có lẽ, tâm trí nàng giờ đây chỉ có hình ảnh của người chồng mà thôi.Nàng “gượng” soi gương để chỉnh trang lại nhan sắc của mình, thế nhưng chẳng biết từ đâu mà “lệ lại châu chan”.Nàng nhìn thấu nỗi đau của mình trong gương ấy và rồi không kìm được những giọt lệ chỉ chực tuôn trào. Nàng muốn thay đổi không khí yên tĩnh, u buồn, nàng gượng gảy những phím đàn để xua tan không khí yên lặng ấy. Thế nhưng, dây “uyên kinh đứt” phải chăng là dự cảm không lành về hạnh phúc mong manh chỉ như sợi tơ hồng của nàng để giờ đây chỉ còn lại những “phím loan ngại chùng”.Nàng vốn mang trong mình nhiều nỗi lo nên khi dây “uyên kinh đứt” nàng lại còn lo lắng hơn.Người phụ nữ dường như đã đã chìm hoàn toàn vào tuyệt vọng, bút pháp tả cảnh ngụ tình của nhà thơ đã cho thấy sự héo úa cả về tâm tư và dáng hình người phụ nữ.

Nếu ở khổ thơ trên là nỗi buồn, nỗi cô đơn triền miên của người chinh phụ thì ở khổ thơ này chính là nỗi nhớ thương chồng đau đáu, khôn nguôi:

“Lòng này gửi gió đông có tiện?

Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.

Non Yên dù chẳng tới miền,

Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.

Cảnh buồn người thiết tha lòng,

Cành cây sương đụng tiếng trùng mưa phun”.

Phải chăng, người phụ nữ đã gom hết những yêu thương trong lòng để nhờ cơn gió đông kia gửi đến chồng ở nơi “Non Yên”. “Gió đông” chính là gió xuân tươi mát làm dịu đi nỗi buồn trong cảnh vật và lòng người nhưng nỗi nhớ chồng của người chinh phụ vẫn luôn thường trực trong lòng. Không gian xa xôi cách trở nên người chinh phụ bèn nhờ cơn gió đông gửi đến chồng những lời yêu thương nhất. Tâm trạng của người phụ nữ được miêu tả trực tiếp qua nỗi nhớ dài đằng đẵng được so sánh bằng đường lên tận trời.Đất trời bao la liệu có thấu cho nỗi chia li đau đớn của nàng không?Nỗi nhớ thương ấy còn có cả dư vị của sự ngậm ngùi, xót xa “Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”.Đường lên trời mù mịt, xa xôi cách trở cũng giống như nỗi nhớ mong của nàng rộng lớn như bể, chẳng biết đâu là bến bờ, cũng chẳng biết khi nào người chồng mới trở về bên nàng.

Cảnh vật xung quanh được nhìn dưới đôi mắt buồn của người chinh phụ càng trở nên sầu muộn hơn: “Cảnh buồn người thiết tha lòng/ Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”. Người phụ nữ ấy đã nhìn cảnh vật xung quanh với đôi mắt buồn làm cho khung cảnh càng thêm hoang vắng, quạnh hiu.Người phụ nữ ấy sống trong sự dày vò của cô đơn, trong nhớ nhung, lo lắng day dứt suốt ngày dài triền miên nhưng ta cũng thấy được niềm khao khát được hưởng hạnh phúc đến mãnh liệt của nàng

Đoạn trích trên đã miêu tả thành công “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” bằng tấm lòng nhân đạo của tác giả. Nhà thơ đã khắc họa thành công hình ảnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, tiêu biểu cho bi kịch về hạnh phúc lứa đôi, là hiện thân của cái đẹp với một tấm lòng chung thủy sắt son với chồng. Nhà thơ đã lên án chiến tranh phi nghĩa cướp đi hạnh phúc của con người, chính vì mà thế đoạn trích  trên đã được rất nhiều độc giả của mọi thời đạitìm đọc và yêu thích.

Tham khảo thêm các bài văn mẫu hay:

————-

Từ dàn ý phân tích đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ mà Đọc tài liệu đã hướng dẫn trên đây, các em hãy vận dụng kiến thức đã học, kết hợp với cách hành văn của mình để làm thành một bài viết hoàn chỉnh nhé. Ngoài ra, chúng tôi thường xuyên cập nhật những bài văn mẫu lớp 10 hay nhất phục vụ việc học văn của các em. Chúc các em luôn học vui và học tốt!

Huyền Chu (Tổng hợp)

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: kiến thức chung