Dàn ý cảm nhận bài thơ Chiều tối ngắn gọn | Dàn ý chi tiết cảm nhận về bài thơ Chiều tối

Hướng dẫn lập dàn ý cảm nhận về bài thơ Chiều tối, tham khảo những mẫu dàn ý từ ngắn gọn đến chi tiết kèm bài văn mẫu tham khảo cảm nhận bài Chiều tối của Hồ Chí Minh.

     Dàn ý cảm nhận về bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh giúp các em học sinh từ đó xây dựng nên một bài văn cảm nhận hoàn chỉnh về tác phẩm này. Đọc tài liệu tổng hợp từ dàn ý chung tới dàn ý chi tiết với đề bài cảm nhận tác phẩm Chiều tối

, các em học sinh có thể tham khảo nhiều cách tiếp cận, cách nêu cảm xúc khác nhau về tác giả, tác phẩm.

Dàn ý ngắn gọn cảm nhận về bài thơ Chiều tối – Hồ Chí Minh

a) Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm Chiều tối trích Nhật ký trong tù

b) Thân bài: Nêu cảm nhận bài thơ Chiều tối trích Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh

* Cảm nhận hai câu đầu: Bức tranh thiên nhiên

  • Con người luôn hướng về thiên nhiên
  • Cảnh chiều tối âm u, hiu quạnh, vắng vẻ
  • Hình ảnh mang tượng trưng cho cảnh chiều tà
  • Hình ảnh chòm mây gợi tả không gian mênh mông, rộng lớn
  • Hình ảnh thiên nhiên mang vẻ đẹp cổ điển, thơ mộng
  • Qua hai câu thơ cảm nhận được ý chí, nghị lực của con người

* Cảm nhận hai câu cuối: Bức tranh đời sống

  • Những hình ảnh đời sống dân dã, đời thường
  • Bức tranh gần gũi, quen thuộc, mộc mạc
  • Hình ảnh con người lấn át hình ảnh thiên nhiên mênh mông, rộng lớn nhưng vắng vẻ
  • Thể hiện tình yêu thương, quan tâm đến số phận của người lao động nghèo
  • Ước mơ thầm kín về mái ấm gia đình của người nghèo
  • Bừng lên sức sống mãnh liệt của con người

c) Kết bài: Nêu cảm nhận của em về bài thơ Chiều tối

Tham khảo: Dàn ý cảm nhận về bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát – Cao Bá Quát

    Đối với đề bài cảm nhận, sẽ có nhiều điểm khác so với đề bài phân tích, vì vậy các em cần tìm hiểu trước nội dung bài phân tích bài Chiều tối của Hồ Chí Minh để tránh lạc sang đề cảm nhận này.

Dàn ý chi tiết cảm nhận về bài thơ Chiều tối

Dàn ý chi tiết 1

a) Mở bài

– Giới thiệu tác giả:

+ Hồ Chí Minh không chỉ là một vị lãnh tụ vĩ đại mà còn là một danh nhân văn hóa của dân tộc.

+ Hồ Chí Minh để lại cho nước nhà một sự nghiệp văn học đồ sộ

– Giới thiệu tác phẩm:

+ Tác phẩm được trích trong tập thơ Nhật Kí trong tù của Bác

+ Bài thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên và tấm lòng lớn lao của Hồ Chủ tịch

b) Thân bài

* Hai câu đầu

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Vân mạn mạn độ thiên không

– Khung cảnh chiều tối được mở ra với hình ảnh tả thực đầy chất thơ: hình ảnh cánh chim mải miết bay về rừng tìm nơi trú ngụ; những đám mây lờ lững bảng lảng trôi về cuối trời.

– Một không gian mênh mông, rộng lớn nhưng lại thơ mộng, yên bình

– Gợi một buổi chiều tà hiu hắt, ánh nắng chỉ còn le lói phía chân trời.

– Không gian thiên nhiên chính là tấm gương soi phản chiếu nội tâm con người:

– Cánh chim vội vã mang dáng vẻ sự mệt mỏi, nhọc nhằn sau ngày tháng rong ruổi

– Áng mây lững lờ trôi, cô đơn, lẻ loi trên nền trời mênh mông, rộng lớn.

– Bầu trời như được đẩy lên cao hơn xa hơn nỗi lòng con người vì thế cũng như trải dài ra ngút ngàn. Đứng trước thời khắc cuối ngày, lòng người bỗng thấy cô đơn, trống trải; thấy mỏi mệt, bâng khuâng. Và cánh chim sau những phút giây mỏi mệt vẫn được nghỉ ngơi nơi tổ ấm còn người sau những giây phút gông cùm, đọa đày lại phải chịu cảnh ngục tù tăm tối.

– Thế nhưng người ấy lại chẳng một câu than vãn, oán trách mà lại thả hồn vào thiên nhiên cảnh vật để cảm nhận và chấm phá nên những nét tuyệt mĩ nhất của bức tranh cuối ngày.

– Thể hiện tình yêu thiên nhiên rạo rực trong trái tim người chiến sĩ cách mạng

– Trong tâm tưởng người chiến sĩ lúc nào cũng thường trực nỗi nhớ về quê hương, đất nước.

– Ý chí sắt đá, nghị lực phi thường, phong thái ung dung và niềm lạc quan cách mạng của Hồ Chủ tịch. (cánh chim biểu tượng cho cuộc sống tự do)

* Đánh giá, mở rộng:

– Hai câu thơ vừa mang nét cổ điển, hiện đại với những hình ảnh thơ quen thuộc, bút pháp ước lệ tượng trưng, chấm phá điểm xuyết, không nói về cảnh trời chiều nhưng người đọc vẫn có thể cảm và hình dung ra không gian và nỗi lòng mà câu thơ muốn gửi gắm.

– Cánh chim không còn là đề tài xa lạ trong thơ cổ thế nhưng cánh chim của Bác lại thật đặc biệt. Nếu như cánh chim của Lý Bạch là cánh chim “điểu cao phi tận” bay vút vào không gian ngút ngàn thì cánh chim của Hồ Chủ tịch lại mang hồn sống, là cánh chim chao liệng không gian, làm chủ không gian, vạn vật.

* Hai câu cuối:

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng

– Bức tranh sinh hoạt của con người nơi xóm núi:

– Bóng tối buông xuống phủ lấp không gian

– Hình ảnh cô thôn nữ miền sơn cước hăng say, uyển chuyển với công việc thường nhật: say ngô => vẻ đẹp khỏe khoắn, trẻ trung, tràn đầy sức sống

– Hình ảnh lò than rực hồng: bừng lên ánh sáng, xua tan bóng tối, sưởi ấm không gian hiu quạnh, lạnh lẽo, vắng vẻ ở ý thơ trên.

– Hình tượng thơ gần gũi, mộc mạc diễn tả chân thực nhịp sống cuối ngày tại miền sơn cước. Qua đó thể hiện tình yêu thương, trân trọng vô bờ của Bác đối với người lao động.

– Hình tượng thơ mang tính chất của sự vận động:

– Thời gian từ chiều tối cho đến tối hẳn

– Cánh chim bay, chòm mây trôi để rồi cũng quy tụ về phía tương lai về ánh sáng.

– Lòng người đi từ chỗ lạnh giá, cô quạnh đến mức ấm nóng, say mê, rạo rực, vui tươi, hồ hởi.

– Nhãn tự “hồng” khép lại bài thơ có sức lay động, lan tỏa đến toàn bộ ý thơ:

– Ngọn lửa hồng lan tỏa, lấn át bóng đêm; xua đi khoảnh khắc lạnh lẽo buốt giá trong cõi lòng con người. Ngọn lửa ấy thổi bùng lên bao khát vọng, ý chí và quyết tâm người chiến sĩ cách mạng giữa cảnh ngục tù đọa đầy.

– Hai câu thơ đã tô vẽ dáng dấp con người. Con người hiện lên kì vĩ, làm chủ không gian, thời gian, xua đi sự cô đơn, vắng vẻ của thiên nhiên. Bên cạnh đó, ýthơ còn thể hiện sức sống mãnh liệt và khát khao lớn lao của người thi nhân.

c) Kết bài:

– Khái quát đặc sắc nghệ thuật: sử dụng từ hán ngữ; bút pháp ước lệ tượng trưng: lấy mây điểm trăng; lấy động tả tĩnh, lấy cảnh vật để khắc tạc thời gian, nhấn nhá nỗi niềm con người; nét cổ điển xen lẫn hiện đại…

– Khái quát giá trị nội dung: Bức tranh thiên nhiên bao la, rộng lớn nhưng vắng vẻ, cô quạnh. Hình tượng con người với sức sống mãnh liệt, ung dung, tự tại giữa gông cùm, xiềng xích.

Xem thêm: Soạn bài Chiều tối – Hồ Chí Minh 

Dàn ý chi tiết 2

a) Mở bài

– Giới thiệu sơ lược về tác giả, nêu những ý chính trong bài thơ Chiều tối

+ Hồ Chí Minh là nhà cách mạng vĩ đại đồng thời là nhà thơ lớn của dân tộc. Ngục trung nhật kí (Nhật kí trong tù) là tác phẩm tiêu biểu, được Bác viết trong thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt tại Quảng Tây (Trung Quốc), từ mùa thu năm 1942 đến mùa thu 1943.

+ Mộ (Chiều tối) là bài thơ có giá trị nội dung và nghệ thuật độc đáo: Điều khác lạ là bài thơ được viết trong hoàn cảnh người bị giải đi trên đường, với gông cùm xiềng xích, nhưng không phải là một lời than vãn xót xa. Trái lại, đó là một nét hoan ca về cuộc sống, về con người, biểu hiện tâm hồn hết sức đẹp đẽ, nhân cách lớn lao của Hồ Chí Minh.

b) Thân bài

* Hai câu đầu

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không

– Hai cầu mở đầu bài Chiều tối vẽ nên một bức tranh nên thơ, yên bình của cuộc sống : chim bay về rừng tìm chốn trú ngụ, đám mây trôi lững lờ trên bầu trời chiều, chỉ vài nét chấm phá, những bức họa (trong bài thơ có họa) của thơ xưa. Song, phong vị cổ thi ấy do gần gũi về bút pháp. Còn thực ra, đây vẫn là buổi chiều nay, với cảnh thật và người thật (người tù – nhà thơ) đang tận mắt nhìn ngắm.

– Bức tranh phong cảnh kia tuy đẹp và nên thơ nhưng vẫn có nét buồn:

+ “Quyện” nghĩa là mỏi, chán, mỏi mệt.

+ “Tầm” là tìm kiếm.

-> Cánh chim sau ngày rong ruổi, trong cái giờ khắc của ngày tàn, mỏi mệt, phải trở về rừng để tìm kiếm chỗ trú.

+ “Cô” là lẻ loi, một mình.

+ “Mạn mạn” là dài và rộng

+ “Không” là trên bầu trời dài, rộng mênh mông.

-> Bản thân bầu trời vẫn dài rộng như là triệu năm qua, nhưng đám mây đơn lẻ kia đã khiến nó càng trở nên mênh mang hơn.

=> Hai câu thơ, theo đúng nghĩa đen cũng chỉ ra một cảnh buồn. Với người bình thường, thậm chí đang vui, trước cảnh ấy, lòng hẳn không sao tránh một cảm xúc man mác, bâng khuâng. Câu thơ khiến người ta liên tưởng đến một buổi chiều khác, trong thơ cổ:

Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn,

Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn

Gác mái ngư ông về viễn phố

Gõ sừng mục tử lại cô thôn

Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi

Dặm liễu sương sa khách bước dồn

Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ,

Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn

(Cảnh chiều hôm – Bà Huyện Thanh Quan)

– Buổi chiều xưa không vắng lặng, nhưng lòng người đã tím ngát nỗi buồn. Còn cảnh ở đây, vốn là đơn chiếc. Cảnh ấy nói hộ lòng người, hẳn đang buồn. Đúng thôi, ngay đến cánh chim kia, khi chiều tắt đã vội trở về. Thế mà, giờ này, người tù mắt mờ, chân yếu, lại bị gông cùm, vẫn đang lê bước trên đường dài. Người đó không than vãn, do nhân cách vĩ đại, song ai không cảm được nỗi đau rất thật từ cảnh tình ấy?

* Hai câu cuối

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng

– Hai câu kết chuyển hướng vận động của hình tượng thơ. Ở trên, cảnh vật mênh mông, vắng lặng, ánh nắng ngày đang dần tắt, nhường chỗ cho bóng đêm ập xuống. Còn ở đây, dù không tả nhưng ai cũng biết, đất trời đã vào đêm, bóng tối len dày muôn nơi. Vậy, điều gì khiến người ta cảm nhận được từng bước đi của thời gian, cảm nhận thấy được ánh sáng và bóng tối? Đó là cánh chim đơn lẻ bay về chốn cũ. Đặc biệt, đó là ánh rực hồng của lò than nơi xóm núi. Đây cũng là lối chấm phá, lấy ánh sáng tả bóng tối.

– Nhưng sự chuyển hướng đích thực của hình tượng thơ không chỉ có vậy. Nếu cảnh ở trên mang nét buồn của sự lẻ loi, hoang vắng, thì cảnh ở đây, dù là đêm tối nhưng ấm áp, giàu sức sống. Đôi mắt của người nghệ sĩ ở cảnh trước khi phóng nhìn ra xa và lên cao, càng nhìn càng mất hút và trống trải. Khi đôi mắt ấy nhìn gần, đã bắt gặp hình ảnh không ngờ:

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

– Vóc dáng người thôn nữ cùng với công việc lao động dường như là thường ngày ấy đã xua đi sự cô quạnh giữa miền sơn cước. Và, đến lúc công việc đã xong, thì ánh sáng tràn ngập.

Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.

=> Trong bóng đêm, ánh sáng ấy càng có sức lan tỏa. Lòng người từng man mác buồn đã ấm lại cùng với ánh lửa kia. Đến đây thì sự vận động của hình tượng thơ được trọn vẹn.

c) Kết bài

– “Mộ” là bài thơ rất tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ Hồ Chí Minh với bút pháp chấm phá để tả cảnh, lấy động tả tĩnh, đặc biệt là lấy cảnh tả tình.

– Trong bài thơ, không có từ hay chi tiết nói về chủ thể trữ tình, nhưng người đọc vẫn nhận ra đôi mắt, tấm lòng của con người ấy. Tuy nhiên, dù mang phong vị cổ điển, đây vẫn là bài thơ hiện đại. Chất hiện đại bộc lộ ở sự vận động hình tượng thơ, nhất là ở tấm lòng và tư tưởng của thi nhân. Dù bị gông cùm, xiềng xích, con người đó vẫn hết sức ung dung tự tại, luôn quên mình để nhìn ngắm cuộc sống và rung động với từng biểu hiện, dù chỉ nhỏ nhoi, tinh tế.

Dàn ý cảm nhận về bài thơ Chiều tối - Hồ Chí Minh

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không”

Dàn ý chi tiết 3

a) Mở bài:

– Dẫn dắt giới thiệu tác giả, tác phẩm

+ Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ tự nhận mình là một nhà thơ hay một nhà văn mà chỉ là người bạn của văn chương, một người yêu văn nghệ.

+ Tiêu biểu cho phong cách thơ trữ tình của Người là bài thơ “Chiều tối

– Nêu nội dung chính bài thơ: tâm hồn yêu thiên nhiên và tinh thần thép của người tù Hồ Chí Minh

– Nêu cảm nhận chung

b) Thân bài:

* Khái quát về hoàn cảnh ra đời

– “Chiều tối” là bài thơ thứ 31 trong tập thơ “Nhật kí trong tù” được gợi cảm hứng từ một cuộc chuyển lao từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo vào một buổi chiều tối cuối thu năm 1942.

* Phân tích bài thơ:

Hai câu thơ đầu: Bức tranh thiên nhiên cảnh vật chiều tối

+ Hình ảnh:

  • Chim bay về rừng: chim không chỉ bay mà còn “mỏi” => gợi thời gian chiều tối
  • Mây trôi lững lờ trên bầu trời: “Trôi nhẹ” và “chòm mây” trong phần dịch thơ tuy giữ được sự thư thái của đám mây song nó lại làm mất đi lớp nghĩa cô đơn, lẻ loi của từ “cô vân” trong bản nguyên tác.

=> Hé mở về cả cuộc đời hoạt động Cách mạng của Bác. Cuộc hành trình bị áp giải còn biết bao nhiêu là điểm đến, từ nhà tù này đến nhà tù kia và những điều trước mắt còn gian nan hơn nhiều, chưa biết rằng tương lai mình sẽ đi đâu về đâu, tương lai của dân tộc sẽ như thế nào. 

=> Gợi không gian bao la, rộng lớn.

+ Đặc sắc trong nghệ thuật tả cảnh: Thiên nhiên mang sắc thái giống con người.

  • Cánh chim mệt mỏi sau một ngày mưu sinh đang vội vã bay về rừng tìm nơi trú ngụ cũng như người tù cũng đã mệt nhoài sau những chặng đường dài lê bước.
  • Đám mây trở nên cô độc giữa bầu trời giống như người tù đang bơ vơ nơi xứ người.

Hai câu thơ sau: Bức tranh cuộc sống sinh hoạt của con người

+ Hình ảnh:

  • Cô gái xóm núi: đang trong công việc xay ngô, người thiếu nữ miền sơn cước hiện lên mang một sức sống phi thường, hăng say, trẻ trung. Con người không chịu sự chi phối của cảnh vật, xuất hiện giữa nơi núi rừng mênh mông, bạt ngàn nhưng không bị hòa lẫn với thiên nhiên mà chính bản thân cô gái trẻ trung này lại trở thành tâm điểm của cảnh vật.
  • Lò than: rực đỏ => hơi ấm của sự sống.
  • Hình ảnh người lao động trên đất Quảng Tây hiện lên khỏe khoắn, chăm chỉ, hăng say.

+ Chữ “hồng” trong thi phẩm: Ánh hồng nơi bếp lửa, trái tim ấm nồng, tinh thần hăng say của người thiếu nữ hay cũng là sự lạc quan, yêu đời của chính tác giả. Sự hiện diện của chữ “hồng” được xem như là nhãn tự của bài thơ, như thổi vào hồn thơ một làn gió mới, một tinh thần mới, một nét đẹp mới => bóng tối đang dần buông xuống.

+ Nghệ thuật:

  • Điệp ngữ vòng “bao túc” : tạo ra sự nối âm cùng âm hưởng của sự nhịp nhàng, liên hoàn những vòng quay của cối xay ngô. Vòng quay ấy lại có giá trị mở ra sự kiên trì, bền bỉ, công việc tuy vất vả, nặng nhọc là thế nhưng con người vẫn rất cần mẫn, hăng say.
  • Không dùng chữ “tối” nhưng vẫn tả được cảnh trời tối

* Khái quát nghệ thuật được sử dụng trong cả tác phẩm.

* Liên hệ mở rộng (có thể đan xen vào bài viết)

c) Kết bài

– Khái quát lại giá trị nội dung tác phẩm

– Phát biểu cảm xúc cá nhân về tác phẩm.

Dàn ý chi tiết 4

     Trong nội dung dàn ý chi tiết cảm nhận về bài thơ Chiều tối này, Đọc tài liệu chỉ tổng hợp các nội dung chính trong phần thân bài để các em học sinh tham khảo; phần mở bài và kết bài các em có thể tham khảo ở các dàn ý gợi ý khác.

1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm, luận đề 

– Hồ Chí Minh là nhà cách mạng, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc. Bên cạnh sự nghiệp cách mạng vĩ đại, Người cũng để lại một sự nghiệp văn học đa dạng, phong phú.

Nhật ký trong tù là tập thơ viết bằng chữ Hán của Hồ Chí Minh trong thời kỳ Người bị giam giữ ở nhà lao của bọn Tưởng Giới Thạch từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943. Tập thơ chẳng những cung cấp cho ta những hiểu biết về chế độ lao tù khắc nghiệt của chính quyền Tưởng Giới Thạch, mà quan trọng hơn còn giúp ta hiểu rõ vẻ đẹp tâm hồn của chính bản thân người đã sáng tạo ra nó, nhà cách mạng, nhà thơ Hồ Chí Minh.

– Có thể thấy rõ điều đó qua hai bài Chiều tối (Mộ) và Giải đi sớm (Tảo giải) trong tập thơ. Cả hai bài thơ Bác đều viết trong gông cùm xiềng xích, trên đường chuyển lao đầy cực nhọc, khổ ải.

2. Những biểu hiện cụ thể: 

     Là nhật ký, tác phẩm còn là tập thơ trữ tình nên thiên về việc bộc lộ thế giới bên trong, thế giới tâm hồn của người sáng tạo. Đó là lòng nhân ái bao la, là tình yêu cuộc sống sâu nặng, là tâm hồn của con người có sự tự do tinh thần tuyệt đối, là cốt cách vững vàng…

a) Lòng nhân ái bao la, tình yêu cuộc sống sâu nặng

– Yêu thiên nhiên, tạo vật

+ Bác nâng niu từng biểu hiện của sự sống: “cánh chim” của sự sống: “cánh chim”, “đám mây”… Có ai ngờ, thiên nhiên lại hiện lên đẹp và sáng đến thế trong bài thơ Bác bị giải đi vào lúc nửa đêm.

– Quan tâm tới con người.

+ Dù trong hoàn cảnh nào, Bác cũng không quên nghĩ tới con người.

+ Hình ảnh thiếu nữ xay ngô tối với Bác là vẻ đẹp của cuộc sống bình dị.

+ Ngọn lửa hồng reo vui trong bếp lửa gia đình, lòng Bác như cũng reo vui với nó (dẫn chứng).

b) Bác tràn ngập niềm hân hoan (dẫn chứng).

c) Một tâm hồn có tinh thần “thép” vượt qua những đọa đày về thể xác, mọi thử thách khốc liệt về tinh thần.

– Qua hình ảnh “quyện điểu” và “cô vân”, ta bắt gặp thoáng buồn, thoáng cô đơn rất người của Bác. Nhưng trước ngọn lửa hồng Bác quên đi việc mình chưa được dừng chân trên con đường đày ải mà để lòng mình reo vui cùng ngọn lửa, để hình ảnh tỏa ấm trên trang thơ, xua đi cái lạnh lẽo, cô đơn của lòng người và cảnh vật. Ngọn lửa hồng trở thành vẻ đẹp tinh thần của nhà cách mạng.

– Giá rét căm căm từng đợt, quất ngược sự giá buốt vào mặt nhưng Bác không để cái khắc nghiệt của thiên nhiên chế ngự mình. Câu thơ đọc lên nghe rắn rỏi lạ thường: “Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng – Nghênh diện thu phong trận trận hàn”.

d) Một tâm hồn lạc quan, tin tưởng

– Cả hai bài thơ kết thúc bằng hình ảnh ngọn lửa hồng và cảnh bình minh mang lại cảm giác phấn chấn, lạc quan. Lời thơ ám dụ vời vợi lòng tin.

e) Một hồn thơ phong phú

– Thi hứng đã đến với Người trong những giờ phút nặng nề, cực nhọc nhất của cuộc đời, ngay cả trong lúc đối với người bình thường, cảm xúc thơ dễ bị triệt tiêu nhất hoặc không cất lên nổi: “Người đi thi hứng bỗng thêm nồng”. Cốt cách thi nhân ở Bác thể hiện ở niềm rung động trước cái đẹp, dù trong cảnh huống nào.

– Niềm rung động ấy được thể hiện bằng những vần thơ vừa cổ kính, vừa hiện đại của một tâm hồn nghệ sĩ mang cốt cách phương Đông. Hồn thơ Hồ Chí Minh bắt rễ rất sâu vào truyền thống dân tộc, truyền thống phương Đông.

Dàn ý chi tiết 5

a) Mở bài: Giới thiệu chung.

– Tác giả:

  • Hồ Chí Minh tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung sinh tại làng Sen, Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ An.
  • Xuất thân từ một gia đình nhà nho trí thức.
  • Từ nhỏ đã được nghe về tư tưởng cách mạng.
  • Sinh thời trong một xã hội bị thực dân Pháp xâm lược các cuộc khởi nghĩa nổ ra đều bị đàn áp đẫm máu.
  • Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước.
  • Song song với hoạt động cứu nước Hồ Chí Minh còn sáng tác thơ ca.
  • Tác phẩm tiêu biểu: Nhật kí trong tù, Pa-ri, Lời than vãn của Bà Trưng Trắc…
  • Người được coi là danh nhân văn hóa thế giới.

– Tác phẩm:

+ Hoàn cảnh sáng tác: Khi đó Hồ Chí Minh đang bị bọn Tưởng Giới Thạch giam cầm, bài thơ được sáng tác khi Bác đang trên đường chuyển lao sang Thiên Bảo. Trên đường đi chiều tối những hình ảnh thiên nhiên cùng tấm lòng yêu nước nhớ nhà đã kết tinh thành bài thơ Mộ.

+ Thể thơ: thất ngôn tứ tuyệt.

+ Bố cục: 2 phần.

  • Phần 1 (hai câu đầu) : bức tranh thiên nhiên chiều tối.
  • Phần 2 (còn lại) : bức tranh sinh hoạt lao động.

b) Thân bài: Phân tích nội dung bài thơ

* Bức tranh thiên nhiên khi chiều tối

– Cảnh:

+ Hình ảnh cánh chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ -> hoạt động kết thúc một ngày, cánh chim bay về tổ ấm của mình.

=> Đây là hình ảnh cổ điển trong thơ xưa, cánh chim như trở nặng trời chiều.

+ “cô vân” nghĩa là cô độc của áng mây bản dịch đã làm mờ nghĩa khi dịch là chòm mây.

+ Sự chuyển động lặng lẽ của cánh chim và áng mây mang trạng thái buồn.

+ Thiên nhiên vận động theo sự sống.

=> Cảnh chiều hiện lên vừa có cái êm ả vừa có cái mơ hồ bảng lảng buồn của một buổi hoàng hôn xuống, tất cả các sự vật đang chuyển động về đêm, cánh chim tìm về tổ ấm kết thúc một ngày kiếm ăn vất vả, đám mây cô đơn cũng lững lờ như níu kéo ngày lại.

– Tình:

+ Bác phải là một người yêu thiên nhiên mới có thể cảm nhận một cách tinh tế những cảnh đẹp ấy.

+ Mọi sự vật đang chìm vào trạng thái tĩnh thì Bác vẫn phải chuyển động để đến nhà lao mới.

+ Cánh chim còn được bay về tổ ấm trong khi Bác vẫn lang bạt nơi đất khách quê người.

+ Bác đồng cảm với hình ảnh thiên nhiên với áng mây, Bác cũng đang cô đơn nhớ về quê hương anh em đồng chí.

=> Cảnh và người như đan xen tâm trạng với nhau, chiều buông xuống mênh mang bảng lảng, có đẹp đấy nhưng cũng nhuốm màu tâm trạng ngày tàn hay chính là nhuốm màu tâm trạng của người ngắm cảnh.

* Bức tranh lao động sinh hoạt

– Cảnh:

+ Dưới cảnh chim ngàn mây nổi hình ảnh của cô gái xay ngô tối hiện ra.

-> Sự chăm chỉ, cần mẫn lao động.

+ Điệp vòng cấu trúc “ma bao túc”.

-> Vòng xoay ngô đều đặn -> cuộc sống lao động vô cùng đẹp.

+ Nghệ thuật đối lập tối >

-> Nhấn mạnh sự chăm chỉ của cô gái và chữ “hồng” làm nhãn tự tỏa sáng cả bài thơ.

=> Cô em xay ngô tối chăm chỉ cần mẫn vất vả như thế để có cuộc sống tươi sáng hơn.

– Tình:

+ Bác yêu cuộc sống lao động.

+ Bác cũng đang chịu những cảnh gian nan để có một ngày mai cho đất nước Việt Nam tươi sáng hơn.

-> Bức tranh lao động hiện lên thật sinh động trên miền sơn cước. Người tù nhân tay đeo cồng chân đeo xiềng xích vẫn mải miết lên đường đợi ngày trở về với đất nước mình.

c) Kết bài:

– Bài thơ giống như một bài thơ tả cảnh nhưng lại ngụ tình ở trong đó. Buổi chiều tối nơi miền sơn cước đem đến biết bao nhiêu cảnh đẹp quen thuộc. Tuy nhiên nó lại buồn vì người ngắm nó cũng đang có rất nhiều tâm trạng. Nào là nhớ thương nào là buồn, rồi lại lạc quan tin vào ngày mai tươi sáng.

     Dựa trên những mẫu dàn ý cảm nhận bài thơ Chiều tối ngắn gọn và cả chi tiết trên đây, các em hoàn toàn có thể xây dựng cho mình một bài văn cảm nhận hay và giàu cảm xúc. Có thể đọc tham khảo những bài văn mẫu phân tích Chiều tối sau đây để mở rộng vốn từ ngữ, cách trình bày.

Bài văn mẫu tham khảo phân tích bài thơ Chiều tối 

     “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh được viết từ 2/8/1942 đến 10/9/1943 khi Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cớ, đày đọa khắp các nhà lao tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Trong số 133 bài thơ của tập “Nhật ký trong tù” có một số bài ghi lại những thời khắc đáng nhớ trong ngày: Buổi sớm, Buổi trưa, Quá trưa, Chiều hôm, Chiều tối, Hoàng hôn, Nửa đêm... Mỗi bài là một nỗi niềm trong những tháng ngày “ác mộng”.

     “Chiều tối” (Mộ) là bài thất ngôn tứ tuyệt số 31 trong “Nhật ký trong tù”. Bài thơ số 32 là bài “Đêm ngủ ở Long Tuyền“. Vậy, bài “Chiều tối” ghi lại cảnh xóm núi lúc ngày tàn trên con đường từ Thiên Bảo đến Long Tuyền vào tháng 10/1942.

       Đây là nguyên tác bài thơ:

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,

Cô vân mạn mạn độ thiên không,

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.”

     Một cái nhìn man mác, một thoáng ươc mơ thầm kín về một mái ấm, một chỗ dừng chân… của nhà thơ trên con đường lưu đày khổ ải muôn dặm được hé lộ qua bài thơ, đọc qua tưởng như chỉ tả cảnh chiều tối nơi xóm núi xa lạ.

     Hai câu đầu tả bầu trời lúc ngày tàn. Hai nét vẽ “động” cánh chim mỏi mệt (quyện điểu) bay về rừng xa, tìm cây trú ẩn, một áng mây cô đơn, lẻ loi (cô vân) đang lửng lơ trôi (mạn mạn). Cấu trúc hai câu thơ đăng đối, âm điệu thơ nhẹ, thoáng buồn. Người chiến sĩ bị lưu đày ngước mắt nhìn bầu trời, dõi theo cánh chim bay và áng mây trôi nhẹ mà lòng man mác. Rất tinh tế, nét vẽ ngoại cảnh đã thoáng hiện tâm cảnh. Câu thơ dịch của Nam Trân tuy chưa thể hiện được chữ “cô” trong “cô vân” nhưng khá hay:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không”.

     Hai câu thơ 1, 2 mang vẻ đẹp cổ điển: tả ít mà gợi nhiều chỉ hai nét phác họa (chim bay, mây trôi) mà gợi lên cái hồn cảnh vật, ngày tàn, màn đêm buông xuống dần, tạo vật như đang chuyển sang trạng thái nghỉ ngơi, mệt mỏi. Nghệ thuật lấy điểm vẽ diện, lấy động tả tĩnh được vận dụng sáng tạo. Nhìn chim bay, mây trôi mà cảm thấy bầu trời bao la hơn, cảnh chiều tối êm ả, tĩnh lặng hơn. Cảnh chiều tối ở xóm núi này còn mang tính ước lệ, nó mở rộng liên tưởng và cảm xúc thẩm mỹ trong tâm hồn mỗi chúng ta,… nhớ về một cánh chim bay trong “Truyện Kiều”: “Chim hôm thoi thót về rừng”; nhớ đến một cánh chim bay mỏi và hình ảnh người lữ thứ trong chiều sương lạnh nhớ nhà:

“Ngàn mai gió cuốn, chim bay mỏi

Dặm liễu sương sa, khách bước dồn”

(Chiều hôm nhớ nhà)

     Trở lại bài “Chiều tối”, áng mây cô đơn lẻ loi đang lơ lửng, trôi nhẹ trên bầu trời là hình ảnh ẩn dụ về người lưu đày trên con đường khổ ải xa lắc! Ngôn ngữ thơ hàm súc, biểu cảm, vừa tả cảnh vừa tả tình, thoáng nhẹ mà đầy ấn tượng, dư ba.

     Tiếp theo câu cuối 3, 4, từ cảnh bầu trời tác giả nói về cuộc sống con người nơi núi rừng. Thiếu nữ và lò than hồng là trung tâm của bức tranh này:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”.

     Một nét vẽ trẻ trung, bình dị, đáng yêu: Thiếu nữ xóm núi đang xay ngô. Ba chữ “ma bao túc” ở cuối câu ba được láy lại “bao túc ma hoàn…” ở đầu câu 4, động tác nhịp nhàng xay ngô, vừa diễn tả sự chuyển động vòng tròn của cái cối đá xay ngô thủ công. Đức tính cần mẫn của thiếu nữ xóm núi được cảm nhận và trân trọng. Nghệ thuật điệp ngữ liên hoàn đã làm cho thơ liền mạch và có nhạc điệu. Câu thơ dịch: “Cô em xóm núi xay ngô tối”, với hai chữ “cô em” đã làm lạc phong cách thơ Hồ Chí Minh; chữ “tối” thêm vào đã làm cho ý thơ lộ, còn đâu nữa ý tại ngôn ngoại trong bài thơ chữ Hán này?

     Sự vật như nối tiếp theo dòng chảy thời gian mà xuất hiện: Khi ngô xay xong than đã rực hồng, sáng bừng lên, vô cùng ấm áp. Khi màn đêm đã bao mịt mùng, lò than đỏ rực lên, cảnh vật ấy thu hút tâm trí người tù đang bị giải đi. Buồn biết bao cảnh bếp lạnh tro tàn, ấm áp biết bao một ngọn đèn, một bếp hồng trong đêm lạnh. Hình ảnh thiếu nữ xóm núi xay ngô và lò than rực hồng tượng trưng cho một mái ấm đoàn tụ gia đình, nó đã làm vợi đi bao nỗi cô đơn tĩnh mịch. Hướng về một cảnh sinh hoạt dân dã bình dị: thiếu nữ xay ngô, dõi nhìn bếp lửa, lò than rực hồng, khi chân tay mang nặng xiềng xích, bị giải đi trong chiều tối, Bác đã tìm thấy nơi nương tựa tâm hồn mình. Hình như nỗi cô đơn, lẻ loi, lạnh lẽo bị xua tan. Một thoáng ước mơ thầm kín về một mái ấm gia đình đã đến với nhà thơ trên con đường đi đày xa xứ trong màn đêm buông xuống. Cảm hứng thơ dào dạt chất nhân bản. Cái bình dị mà đầy chất thơ. Chất thơ ấy là hồn người và tình người. Hai nét vẽ về thiếu nữ xay ngô và lò than rực hồng là hai nét vẽ bình dị, ấm áp, khoẻ và trẻ trung, làm thơ Bác có sự hoà hợp giữa màu sắc cổ điển và chất hiện đại trẻ trung bình dị.

     Nhiều bài thơ khác cho thấy trên con đường khổ ải, lưu đày người chiến sĩ cách mạng trong “Nhật ký trong tù” hầu như ít cảm thấy cô đơn, tâm hồn luôn luôn gắn bó với nhịp sống, làm chủ hoàn cảnh và lạc quan yêu đời. Trong cảnh hoàng hôn gió rét căm, vượt lên gian khổ. Người xúc động hướng tới một tiếng chuông chùa, một tiếng sáo mục đồng mà mạnh bước:

“Gió sắc tựa gươm mài đá núi,

Rét như dùi nhọn chích cành cây

Chùa xa chuông giục người nhanh bước,

Trẻ dẫn trâu về tiếng sáo bay”.

(Nam Trân dịch)

     Có lúc trong cảnh bị cùm trói “Thừa cơ rét rệp xông vào đánh” mà Người vẫn “thoát ngục” tìm được một chút niềm vui nâng đỡ tâm hồn mình: “Oanh sớm, mừng nghe hót xóm gần” (Đêm ngủ ở Long Tuyền). Điều đó cho thấy, sự sống và tự do là khát vọng của Người. Thiên nhiên và con người hiện diện trong thơ Bác bằng những nét vẽ đẹp, bình dị. đáng yêu, đó là sự sống mà Bác gắn bó, mến yêu suốt đời.

    “Chiều tối” – một bài thơ đáng yêu: màu sắc cổ điển hàm súc kết hợp với tính chất trẻ trung, hiện đại, bình dị. Tứ thơ vận động từ cảnh đến tình, từ trong bóng tối đến sự sống, đến ánh sáng và tương lai. Nét vẽ tinh tế, thể hiện một hồn thơ “bát ngát tình”. Bài thơ thấm đượm một tình yêu mênh mông đối với tạo vật và con người. Trong đoạ đầy gian khổ, tâm hồn Bác vẫn dào dạt sự sống.

(Nguồn: Thầy Nhật dạy văn)

    Trên đây là nội dung chi tiết một số dàn ý cảm nhận bài thơ Chiều tối và bài văn mẫu tham khảo phân tích, cảm nhận về bài Chiều tối của Hồ Chí Minh. Ngoài ra, các em nên đọc tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu 11 khác do Đọc Tài Liệu tổng hợp và biên soạn để nâng cao kĩ năng làm văn cũng như làm phong phú vốn từ ngữ khi hành văn của mình. Chúc các em học tốt môn Văn !

Tâm Phương (Tổng hợp)

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: kiến thức chung
READ:  Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu | Phân tích Từ ấy chi tiết nhất