Bài 2 trang 18 SGK Ngữ văn 8

Trả lời câu hỏi bài 2 trang 18 SGK Ngữ văn lớp 8 tập 2 phần hướng dẫn soạn bài Quê hương ngữ văn 8.

Đọc Tài Liệu hướng dẫn trả lời câu hỏi bài 2 trang 18 sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập Hai phần soạn bài Quê hương chi tiết nhất.

Đề bàiPhân tích các câu thơ sau:

– Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…

– Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm.

Lối nói ẩn dụ và biện pháp so sánh ở những câu này có hiệu quả nghệ thuật như thế nào?

Trả lời bài 2 trang 18 SGK văn 8 tập 2

Cách trả lời 1:

Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

Rướn thân trắng bao la thâu góp gió

+ Cánh buồm: giương to, rướn thân, góp gió – hình ảnh cánh buồm thân thuộc được tả thực trong sự quan sát tinh tế.

+ So sánh ẩn dụ: cái vô hình được gọi tên, cụ thể hóa bằng hình ảnh “cánh buồm” rõ ràng đường nét, hình khối, màu sắc.

+ “rướn thân trắng bao la thâu góp gió” – sự khoáng đạt, hiên ngang mạnh mẽ như chính tính cách của người dân miền biển, sẵn sàng đương đầu với thử thách.

+ Cánh buồm mang ý nghĩa tượng trưng cho hồn cốt, thần thái, tình cảm của người dân chài, nay đi vào thơ trở nên bay bổng, lãng mạn.

READ:  Soạn bài Tập đọc: Mẹ ốm - Trần Đăng Khoa trang 9

→ Biện pháp ẩn dụ, so sánh làm cho hình ảnh thực trở nên lãng mạn cánh buồm là linh hồn của làng biển, là niềm tự hào, tình yêu chinh phục biển cả làm chủ cuộc sống.

Dân chài lưới làn da ngăm dám nắng

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm

+ Hình ảnh tả thực “làn da ngăm dám nắng” – vẻ đẹp rắn rỏi, chắc khỏe nói lên sự từng trải trong cuộc sống lao động vất vả nắng gió của người đi biển.

+ “thân hình nồng thở vị xa xăm” → hình ảnh ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, “thân hình” nay được cảm nhận bằng xúc giác – “mặn”.

+ Sự mặn mòi của biển cả ngấm vào từng hơi thở trong cuộc sống, sự hòa quyện giữa con người với biển cả – nơi ngọn nguồn nuôi dưỡng.

=> Biện pháp ẩn dụ không chỉ xây dựng hình tượng người dân miền biển khỏe khoắn, từng trải mà còn làm nổi bật sự hòa quyện bền chặt giữa con người với tự nhiên.

Đọc thêm: Phân tích tình yêu quê hương đất nước qua bài Quê hương của Tế Hanh

Cách trả lời 2:

Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…

– Hình ảnh thực trong sự quan sát tinh tế: cánh buồm giương to, rướn thân trắng thâu góp gió, cánh buồm được so sánh với mảnh hồn làng: cái vô hình, vô sắc được cụ thể hóa bằng hình ảnh có hình khối, đường nét, màu sắc. Cảnh mang hồn người, nhà thơ đã thổi vào cảnh linh hồn của làng chài. Cánh buồm vốn gắn bó, gần gũi trong cuộc sống của dân chài trở thành một hình ảnh thơ bay bổng, giàu tính tượng trưng.

READ:  Soạn bài Điệp ngữ ngắn nhất | Soạn bài Điệp ngữ văn 7

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm.

– Tả thực: dân chài lưới làn da rám nắng.

– Sử dụng biện pháp ẩn dụ thể hiện cảm nhận bằng xúc giác (vị), cái vốn chỉ được cảm nhận bằng thị giác (thân hình).

– Những câu thơ tả cảnh thuyền cá về bến toát lên vẻ mặn mòi của biển, thấm đượm xúc cảm bâng khuâng thương nhớ của người con xa quê hương.

Cách trả lời 3:

Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…

Một vật cụ thể, hữu hình là “cánh buồm” được so sánh với cái trừu tượng, vô hình là “mảnh hồn làng”. Đây là một sự so sánh độc đáo và bất ngờ. Cánh buồm trắng no gió biển khơi quen thuộc, gần gũi bỗng trở nên thiêng liêng và thơ mộng. Biện pháp so sánh đã không làm cho sự vật được miêu tả cụ thể hơn nhưng nó lại gợi được vẻ đẹp bay bổng, ý nghĩa lớn lao. Cánh buồm còn được nhân cách hóa “Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…”. Cánh buồm cố vươn cao hơn, căng mình ra đón gió đưa con thuyền vượt lên phía trước. Cánh buồm trở thành biểu tượng của làng chài. Những người con làng chài tự hào về cánh buồm, về làng quê thân yêu của mình.

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm.

Câu thơ đầu là một câu tả thực làm nổi bật nét ngoại hình tiêu biểu của những người dân chài. Những ngư dân này hằng ngày lao động trên mặt biển, dưới cái nắng chói chang nên ai cũng có “làn da ngăm rám nắng”. Câu thơ thứ hai đầy sáng tạo, độc đáo và gợi cảm. Cái mơ hồ, vô hình “nồng thở vị xa xăm” được thể hiện trong cái “thân hình” hữu hình, cụ thể. Câu thơ vừa miêu tả được vẻ đẹp cường tráng, khỏe mạnh của những người dân làng chài, vừa thể hiện được tình cảm của tác giả với biển cả mặn mòi, khoáng đạt, đầy nghĩa tình. Hình ảnh người dân chài được miêu tả vừa chân thực vừa lãng mạn và trở nên có tầm vóc phi thường

READ:  Phân tích khổ thơ thứ ba trong bài Tràng giang | Phân tích khổ 3 bài tràng giang

Tham khảo bài văn mẫu: Cảm nhận về bài thơ Quê hương của Tế Hanh

Trên đây là 3 cách trình bày câu trả lời bài 2 trang 18 SGK ngữ văn 8 tập 2 được Đọc Tài Liệu tổng hợp và biên soạn. Hi vọng sẽ mang đến những thông tin hữu ích giúp các em tham khảo để soạn bài Quê hương tốt hơn trước khi đến lớp.

Chúc các em học tốt !

Tâm Phương (Tổng hợp)

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: kiến thức chung